Trên sa mạc và trong rừng thẳm

13/07/2018 08:21 Số lượt xem: 343
Là tác phẩm duy nhất dành tặng thiếu nhi của đại văn hào Ba Lan Henryk Sienkiewicz (1846 - 1916), tác giả đoạt giải Nô - ben Văn học năm 1905, “Trên sa mạc và trong rừng thẳm” làm say mê biết bao bạn đọc nhỏ tuổi trên khắp thế giới. Không riêng các bạn nhỏ, bất cứ ai ham thích đọc sách, nếu đã cầm cuốn tiểu thuyết này lên đều khó có thể đặt xuống.


Cuốn tiểu thuyết kể câu chuyện về cậu bé người Ba Lan Xtas Tarơcốpxki 14 tuổi và cô bé người Anh Nen Rôlixơn 8 tuổi trong hành trình băng qua gần hết miền Đông Phi khô cằn với cái nắng bỏng rát của mặt trời xích đạo, những cơn bão cát điên cuồng trên sa mạc, những đêm trường khủng khiếp thao thức trong vòng vây thú dữ, gió mưa, bệnh tật, khát cháy cổ giữa rừng thẳm không vết chân người, tìm đường về với hai người cha thân yêu sau khi bị bắt cóc bởi quân nổi dậy Mahơdi ở Ai Cập.        
Chuyện xảy ra vào những năm cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Anh buộc Ai Cập phải trao quyền thống trị Xuđan. Kỹ sư trưởng người Ba Lan Tarơcốpxki và giám đốc người Anh Rôlixơn của Công ty kênh đào Xuê (cha của Xtas và Nen) kết thân với nhau sau khi góa vợ và cùng coi hai đứa trẻ như con đẻ của mình. Một lần, hai ông được mời đến đánh giá công việc trên toàn bộ mạng kênh rạch ở tỉnh En Phaium, vùng lân cận thành phố Mêđinét. Khoảng thời gian đó đúng dịp nghỉ lễ giáng sinh nên họ quyết định để bọn trẻ đi với cô gia sư tới Mêđinét. Nhưng cô gia sư đột nhiên bị ốm, bọn trẻ phải lên đường cùng với bà bảo mẫu da đen Đina. Chính lúc này Khamix, con trai lão quản gia Khađigi và hai người Xuđan quản lạc đà là Iđrix và Ghebơrơ bị mua chuộc, cấu kết với quân phiến loạn thực hiện ý đồ bắt cóc hai đứa trẻ. Chúng hy vọng mang bọn trẻ đến dâng cho đấng tiên tri Mahơđi đổi lấy những đứa con của ông Xmainơ và bà Phátma, em họ của ngài Mahơđi để được trọng thưởng. Từ đây, hành trình khổ ải của Xtas và Nen bắt đầu.
Mặc cho Nen hoảng sợ, gào khóc, mặc cho Xtas liên tục đề nghị giảm tốc độ vì lo Nen bị ngã nhưng bọn bắt cóc không ngừng thúc lạc đà phóng như bay trong cát bụi mịt mù. Chính những cơn bão cát bất chợt trên sa mạc đã xóa hết dấu vết, cản trở đoàn người truy đuổi. Càng tiến sâu vào sa mạc, cơ hội được cứu thoát của Xtas và Nen càng ít dần rồi mất hẳn. Muốn cứu Nen thoát khỏi cảnh đọa đày, Xtas nung nấu ý định bắn chết 3 người Xuđan nhưng em cứ chần chừ,  đấu tranh tư tưởng hết lần này đến lần khác. Một lần, khi mọi người ngủ say, Xtas hạ quyết tâm lấy súng giấu trong hành lý để cứu Nen và bản thân nhưng kế hoạch đã vô tình bị tiếng sủa của con Xaba phá hỏng. Thế rồi đoàn người đến được Kháctum, thành phố do tướng người Anh Goócđôn cai quản, quân nổi dậy vừa chiếm đóng và chặt đầu tướng Goócđôn bêu ở quảng trường thành phố. Trước cái chết đau đớn của vị tướng tài ba, dũng cảm, Xtas không khỏi xót xa, có lúc tưởng như tuyệt vọng khi chứng kiến thân phận nhiều người châu Âu bị bắt làm tù binh và cảnh đói khát, dịch bệnh tràn lan. Ở Kháctum, Xtas và Nen được một ông lão người Hy Lạp giúp đỡ, cho chút đồ ăn và dặn dò cách cư xử thuận theo đức Mahơđi để được che chở. Khi được gặp Mahơđi, Xtas khẳng khái từ chối tiếp nhận học thuyết của ông ta. Mahơđi không giết bọn trẻ mà lệnh đưa chúng đến Phasôđa tìm Xmainơ, thực chất là muốn đày chúng đến chỗ chết.
Không được Mahơđi trọng thưởng mà còn buộc phải dẫn bọn trẻ tiếp tục hành trình gian nan gấp bội, bọn bắt cóc trút giận lên Xtas và cậu bé Cali, nô lệ của Ghebơrơ. Ông Hatim, viên tù trưởng già lãnh trách nhiệm dẫn đoàn đến Phasôđa được sự gửi gắm của ông lão Hy Lạp không cho phép họ đối xử tàn nhẫn với bọn trẻ. Cái chết đột ngột của bà vú già Đina khiến gánh nặng chăm lo cho Nen đặt hoàn toàn lên vai Xtas. Đến Phasôđa, đoàn người không gặp được lão Xmainơ mà chỉ gặp viên thủ lĩnh đám quân lính của Mahơđi và là bạn của Hatim, cho biết  Xmainơ dẫn quân đi mãi về những vùng rừng núi phía Đông sông Nin để săn bắt nô lệ. Ông Hatim đã yêu cầu viên thủ lĩnh cấp cho một nữ nô lệ (Mêa) để chăm sóc Nen. Bọn bắt cóc dẫn Xtas, Nen và 2 nô lệ Cali, Mêa lần theo dấu vết toán quân Xmainơ.
Sự xuất hiện của con sư tử trên đường đi mở ra một bước ngoặt trong hành trình của bọn trẻ. Do quá sợ hãi, ba người Xuđan buộc phải đưa súng săn của Xtas cho cậu bé bắn hạ con sư tử, họ cũng mất mạng vì quyết định ấy. Sững sờ nhìn mấy xác chết vẫn còn ấm nóng, Xtas quay đi nuốt nỗi cay đắng, nghẹn ngào khi bắt gặp ánh mắt ghê sợ của Nen nhìn mình. Kể từ đây, Xtas trở thành “thủ lĩnh” của cả đoàn.
Có biết bao chuyện xảy ra với bọn trẻ mà một cậu bé mới 14 tuổi phải đương đầu: chống chọi với thú dữ, săn bắn kiếm thức ăn, nhất là chăm sóc, lo lắng cho Nen khỏi nguy cơ mắc bệnh sốt rét. May mắn gặp một cây bao báp lớn rỗng ruột làm nơi trú ngụ lý tưởng qua suốt mùa mưa; tình cờ gặp rồi cứu con voi khổng lồ khỏi bị chết đói vì bị mắc kẹt trong hang đá và thuần hóa nó thành con King, người bạn thân thiết, vệ sỹ trung thành, đắc lực của Nen khiến bọn trẻ có những ngày sống thực sự vui vẻ trong rừng thẳm. Dù đã được Xtas cho uống dự phòng mỗi ngày nửa viên ký ninh do ông lão Hy Lạp cho trước lúc lên đường đi Phasôđa, nhưng với thể trạng yếu ớt lại phải trải qua điều kiện sống quá khắc nghiệt nên Nen đã bị bệnh sốt rét quật ngã, thập tử nhất sinh.  Xtas tuyệt vọng, sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để lấy một chút ký ninh cho Nen. Để Nen ở lại “ngôi nhà cây” cho Cali và Mêa chăm sóc, trong đêm Xtas băng rừng, bất chấp nguy hiểm, hy vọng gặp bất kỳ ai đó để có thể đổi lấy một chút ký ninh cho Nen. Như một phép màu, Xtas phát hiện ra ánh lửa, nơi dựng trại của ông Linđen, nhà thám hiểm châu Phi người Thụy Điển bị thương nặng do lợn rừng tấn công, đang nằm chờ chết. Xtas được ông Linđen tặng cho rất nhiều thuốc ký ninh, đồ ăn, đồ dùng, bình lọc nước, ngựa, vũ khí... và hướng dẫn đường đi tiếp về phía Đông, hướng về phía đại dương. Nhờ đó, Nen chiến thắng được tử thần, Xtas có đủ thuốc nổ để cứu con King thoát khỏi hang đá. Cả đoàn tiếp tục hành trình băng qua nhiều ngọn núi, nhờ có con King bảo vệ nên tránh được rất nhiều nguy hiểm. Qua nhiều vùng sinh sống của các bộ lạc thổ dân hoang dã và sắp chết khát trên sa mạc nắng cháy thì may mắn gặp được đoàn thám hiểm của đại úy Glen và bác sỹ Clery (bạn của cha Xtas và Nen) đang tiến sâu vào sa mạc tìm kiếm sau khi nhặt được chiếc diều có chữ viết của Xtas mà bọn trẻ gửi đi. Hai người cha tóc đã bạc trắng vì tuyệt vọng lập tức đón bọn trẻ về nước trong trạng thái sững sờ và tự hào không lời nào tả xiết.
Xuyên suốt hơn 500 trang sách, Sienkiewicz đã khắc họa hình tượng nhân vật Xtas, một thiếu niên 14 tuổi mang trong mình dòng máu Ba Lan can đảm, hào hiệp, làm biết bao việc phi thường mà một người đàn ông thực thụ cũng không dễ gì làm được. Không hổ danh là “đứa con của sa mạc” như mọi người thường gọi em từ tấm bé, Xtas xuất sắc trong nhiều lĩnh vực, giỏi bắn súng, cưỡi ngựa, bơi lội..., biết phán đoán và xử lý mọi  tình huống, có kỹ năng sinh tồn trong những điều kiện khắc nghiệt nhất... Hơn tất cả là tình cảm chứa chan với Nen bé nhỏ mà em rất mực yêu thương và quyết thực hiện lời hứa với hai người cha bảo vệ Nen bằng bất cứ giá nào.
Trên sa mạc và trong rừng thẳm ra đời năm 1911, ngay sau khi xuất bản đã được hoan nghênh nhiệt liệt, được tái bản ngay và dịch ra nhiều thứ tiếng. Tác phẩm gợi lên khát vọng sống cao đẹp, đi tới những chân trời xa, thực hiện những kỳ tích, vượt mọi hiểm nguy, chiến thắng mọi bất công tàn ác. Sách do nhà văn Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2016.

Chi Mai