Bao dien tu Bac Ninh
Thứ hai, 24/07/2017 - 08:20
Gìn giữ, phát huy giá trị di tích Nho học
Một nhân tố quan trọng góp phần kiến tạo nền văn hiến và bản sắc Bắc Ninh-Kinh Bắc chính là truyền thống hiếu học, khoa bảng. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của Nho học cũng là gìn giữ truyền thống cha ông, hun đúc thêm tinh thần hiếu học cho các thế hệ.

Nhiều thế kỷ gắn bó cùng người Việt, Nho học để lại cho hậu thế một kho tàng tri thức phong phú cùng nhiều di sản quý báu như các di tích về trường học, trường thi, nơi ghi danh, thờ cúng những bậc tiên hiền, tiên triết… Bắc Ninh là “cái nôi” của Nho học khoa bảng, nơi Sĩ Nhiếp mở trường dạy chữ Nho đầu tiên và được sử sách, dân gian ca ngợi là quê hương của “Một giỏ sinh đồ, một bồ ông cống, một đống Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn”… Cũng bởi thế, hệ thống di tích Nho học ở Bắc Ninh vô cùng phong phú, đa dạng. Ngoài Văn miếu hàng tỉnh còn có Văn miếu hàng huyện như Văn miếu huyện Đông Ngàn (Từ Sơn) và Văn miếu Trà Lâm (Thuận Thành). Cả 8 huyện thời xưa của Bắc Ninh tính theo địa giới hành chính thời Nguyễn đều có Văn miếu, Văn chỉ hàng huyện, hàng tổng, hàng xã và nhiều Từ đường gia tộc thờ các nhà khoa bảng. Đó là những công trình tín ngưỡng thờ Khổng tử, các bậc tiên hiền, tiên triết, các vị đại khoa thời phong kiến và là hệ thống di sản văn hóa vật thể tiêu biểu phản ánh truyền thống hiếu học, khoa bảng vẻ vang của quê hương.

Hệ thống di tích Nho học là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể quý giá, mang truyền thống tốt đẹp của quê hương và tác động tích cực đến tiến trình phát triển của đất nước trong thời đại hội nhập. Nhận thấy ý nghĩa và vai trò quan trọng của các di tích Nho học, những năm vừa qua, Bắc Ninh là một trong những địa phương có nhiều sự quan tâm, đầu tư cho công tác nghiên cứu, sưu tầm và đạt được những kết quả nổi bật. Đến nay, nhiều di tích Nho học được lập hồ sơ xếp hạng cấp tỉnh và cấp Quốc gia, trong đó những di tích Quốc gia được đầu tư bảo quản, tu bổ và phục hồi bằng nguồn vốn chương trình mục tiêu chống xuống cấp và tôn tạo di tích.

 

 

Từ đường Tiến sỹ Chu Văn Nghị ở thôn Cầu Gạo, xã Yên Phụ (Yên Phong) là một trong những di tích Nho học của tỉnh.

 

Giới chuyên môn Bắc Ninh cũng dành nhiều thời gian, tâm sức nghiên cứu, khảo sát, sưu tầm được nhiều tư liệu hiện vật có giá trị tiêu biểu phản ánh về các di tích nho học này. Theo ông Lê Viết Nga, nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh: Từ kết quả nghiên cứu khảo sát Văn miếu, Văn chỉ ở các địa phương đã rút ra một số nhận xét cụ thể. Về tên gọi, huyện Đông Ngàn gọi là Văn miếu, huyện Lương Tài gọi là Văn từ, huyện Gia Bình và Tiên Du gọi là Từ vũ, huyện Yên Phong gọi là Từ chỉ; huyện Võ Giàng, Quế Dương và Siêu Loại gọi là Văn chỉ. Hiện cả 8 di tích nho học hàng huyện đều được khảo sát, phát hiện địa điểm xây dựng không nằm ở trung tâm huyện lỵ mà được xây dựng ở các địa phương có truyền thống khoa bảng tiêu biểu, có nhiều người đỗ đạt. Các di tích chủ yếu được xây dựng từ thời Lê và Nguyễn nhưng đều bị tàn phá trong thời kháng chiến chống Pháp, sau đó lãng quên đến nay chưa huyện nào khôi phục được. Hệ thống bia đá ở các Văn miếu, Văn chỉ hàng huyện vốn từ xưa có rất nhiều để lưu danh các nhà khoa bảng, góp phần giáo dục truyền thống khoa bảng vẻ vang cho các thế hệ cũng bị thất lạc. Mặc dù vậy, sơ đồ mặt bằng tổng thể của hầu hết các di tích này đã được tái hiện và đang lưu giữ tại Bảo tàng Bắc Ninh. Một số bia đá, thác bản văn bia của huyện Đông Ngàn, Yên Phong, Gia Bình, Lương Tài và Tiên Du cũng được cán bộ Bảo tàng tỉnh phát hiện sưu tầm.

 

 

Những đặc điểm điển hình trong truyền thống hiếu học khoa bảng tỉnh Bắc Ninh:

1. Bắc Ninh có vị trúng tuyển độc đắc trong kỳ thi đầu tiên của nước ta thời phong kiến là Lê Văn Thịnh đỗ năm 1075.

2. Có vị đỗ Trạng nguyên đầu tiên của cả nước là Trạng nguyên Nguyễn Quan Quang đỗ năm 1246

3. Khoa thi năm Mậu Thìn 1508, người Bắc Ninh đoạt hết danh hiệu Tam khôi là Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa

4. Có vị đỗ Tiến sỹ 2 lần là Nguyễn Bạt Tụy (đỗ năm 1508 và 1511)

5. Có 1 vị đạt danh hiệu Tứ nguyên độc đáo nhất Việt Nam là Nguyễn Đăng đỗ năm 1602

6. Có 1 vị Lưỡng quốc Trạng nguyên là Nguyễn Đăng Đạo đỗ năm 1683.

7. Có 1 vị đỗ Tiến sỹ trẻ nhất -15 tuổi là Nguyễn Nhân Thiếp đỗ năm 1466

8. Có vị đỗ Tiến sỹ nhiều tuổi nhất Kinh Bắc, thứ nhì toàn quốc là Quách Đồng Dần đỗ năm 1634 khi ông 68 tuổi

9. Có vị đỗ Trạng nguyên nhiều tuổi hàng nhất nước là Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính, đỗ khi ông 50 tuổi

10. Có 2 trong 3 vị đỗ Trạng nguyên trẻ nhất toàn quốc khi 21 tuổi là Vũ Kiệt đỗ năm 1472 và Nguyễn Quang Bật đỗ năm 1484.

11. Có 1 vị đậu Bảng nhãn trẻ nhất Kinh Bắc là Nguyễn Nhân Huân, đỗ năm 1496 khi ông 21 tuổi

12. Có 1 trong 2 vị đỗ Thám hoa trẻ nhất Kinh Bắc năm 18 tuổi

13. Có hai cha con đậu Tiến sĩ cùng một khoa là Nguyễn Bình và Nguyễn Tài đỗ năm 1628.

14. Có hai anh em ruột đỗ Tiến sỹ cùng một khoa

15. Có 5 anh em ruột cùng đậu Tiến sỹ (họ Nguyễn, Kim Đôi)

16. Có 4 anh em họ nội tộc đỗ Tiến sỹ cùng một khoa (họ Nguyễn, Kim Đôi)

17. Có gia tộc họ Nguyễn, Kim Đôi- 13 đời liên tiếp có người đỗ Tiến sỹ.

18. Có hai thầy trò cùng thi một khoa: thầy đỗ Hoàng Giáp, trò đỗ Trạng nguyên (trò đỗ cao hơn thầy).

19. Có 34 làng xã có nhiều người đỗ đại khoa (tính từ làng có 4 vị đại khoa trở lên)

20. Có 16 gia tộc nhiều người đỗ đại khoa (tính từ gia tộc có 3 đại khoa trở lên).

Nguồn: Bảo tàng Bắc Ninh

 

Người Việt Nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng vốn có truyền thống hiếu học, ai cũng quan tâm đến việc học hành, thành đạt của con cháu. Tuy hệ thống giáo dục ngày nay có nhiều cải cách, đổi mới song tinh thần đề cao, tôn vinh đạo học vẫn còn nguyên giá trị. Chính vì vậy, nghiên cứu bảo tồn và phát huy hệ thống di tích Nho học trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết nhằm tạo chỗ dựa tinh thần cho việc học hành của con em, là nơi răn mình của những người theo đòi nghiệp bút nghiên. Song công tác bảo tồn và phát huy hệ thống giá trị di tích đặc biệt này hiện vẫn chưa thật tương xứng; các tư liệu Nho học còn tản mạn, rải rác nhiều nơi chưa được sưu tầm, lưu trữ và bảo quản đúng; việc tuyên truyền, giới thiệu giá trị cũng chưa được chú trọng đầu tư cả về con người lẫn điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí…

Để các di tích Nho học tiếp tục khẳng định vai trò trong xã hội đương đại, cần có sự quan tâm đầu tư hơn nữa của các cấp, ngành, trong đó những người làm công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích cần tăng cường tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, hoạt động của các di tích Nho học đến đa dạng đối tượng, nhất là học sinh, sinh viên của các nhà trường nhằm tiếp tục thắp sáng ngọn lửa hiếu học trong thế hệ trẻ. Đồng thời phối hợp với các đơn vị hoạt động du lịch để đưa các di tích Nho học trở thành những “điểm vàng” trên bản đồ du lịch của tỉnh…

Bài, ảnh: Thuận Cẩm
Top