Bao dien tu Bac Ninh
Thứ Tư, 15/02/2017 - 08:39
Hát trống quân, nghệ thuật truyền thống xứ Bắc
Bắc Ninh - Kinh Bắc là vùng đất cổ, trung tâm của nền văn hoá Việt nên có nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống mang hồn cốt dân tộc độc đáo. Mới đây, hai loại hình nghệ thuật được thế giới công nhận là văn hoá phi vật thể nhân loại là Quan họ và Ca trù.

Quan họ rất độc đáo nhưng cũng chỉ có 49 làng Quan họ gốc, trong đó có cả một số làng của Bắc Giang, vốn thuộc Bắc Ninh -  Kinh Bắc xưa. Ca trù có tổ nghề ở Dục Tú (Hà Nội) nhưng trước kia cũng thuộc Bắc Ninh - Kinh Bắc. Hiện Ca trù chỉ còn bảo tồn ở một số làng do tính bác học của nó và một phần do quan niệm dân gian về loại hình nghệ thuật này.

Bắc Ninh còn một loại hình nghệ thuật truyền thống mang tính phổ biến ở hầu khắp các làng quê nữa là hát Trống quân. Phổ biến nhưng nay lại thất truyền, rất khó tổ chức lại được một buổi hát đầy đủ lệ bộ như thời xưa. Tuy nhiên, cơ quan văn hoá địa phương đã tiến hành tổ chức hát và thu băng lưu giữ lại loại hình nghệ thuật này. Và ở các làng quê vẫn còn những tay hát và biết cách thức tổ chức hát. Ở vùng Nam Đuống quan họ ít ảnh hưởng có lẽ cũng là do loại hình hát trống quân thịnh hành và cách thức tổ chức lệ bộ cũng có nhiều nét giống với hát quan họ bọn, quan họ chiếu. Do hát Trống quân là hát đối đáp nam nữ nên người hát ngoài chất giọng tốt còn phải thuộc rất nhiều ca dao, tục ngữ, truyện thơ, thơ để vận dụng vào canh hát. Vì thế những tay hát cự phách tuy không biết chữ mà vẫn thuộc làu làu rất nhiều thơ, truyện thơ, ca dao. Truyện Kiều được sử dụng vào hát nhiều nên người hát thuộc đến mức đọc xuôi ngược ngang ngửa được hết, vận dụng vào hát rất nhiều cách và do đó tác phẩm càng thêm phổ biến trong dân gian. Trong các sách Địa chí Hà Bắc, Hát trống quân, Văn hoá dân gian ở Gia Đông và thực tế điền dã ở các địa phương thì vùng Nam đuống là nơi rất thịnh hành nghệ thuật hát Trống quân, có lệ bộ quy củ và thi đấu có kết quả được sách báo ghi lại.

Đặc điểm nổi bật của hát trống quân là hai bên nam nữ dùng chung một loại nhạc cụ đặc biệt là trống quân tự chế đơn giản, còn gọi là trống đất, âm trầm ấm, lạ tai, dùng để đệm cho nhịp hát rất tình tứ. Cách làm trống quân: đào thùng hàm ếch sâu chừng một mét, miệng đậy vừa mâm gỗ, trong chứa vỏ ốc nứa để tăng âm thanh, trên căng ngang sợi dây mây hoặc dây thừng, giữa mâm gỗ có một thanh tre chống căng sợi dây để dẫn âm. Còn có hai loại trống quân khác là đặt chum hoặc hộp sắt tây vào hố đất để tăng âm thanh, hoặc để nổi không cần đào hố. Nhưng loại trống này chỉ là vận dụng, âm thanh không trầm ấm như trống quân truyền thống.

Thời gian tổ chức hát trống quân thường vào tháng tám heo may, nông nhàn.

Một canh hát trống quân đủ lệ bộ thường qua các màn mà các loại hình nghệ thuật hát đối đáp thường vận dụng là: hát khai đám (hoặc giáo đầu), hát giao hẹn (quy định lệ bộ canh hát), hát chào mừng bạn, hát khoe quê (tự giới thiệu quê mình và đội hát), hát thi tài (vận huê tình, vận bằng trắc, đố đáp, xướng hoạ, thi hát truyện nôm), hát giã (chia tay, giã đám, giã bạn).

Ở các cuộc thi này đôi khi người ta cược mất ô mất áo, coi như là một tín vật tỏ tình. Nhiều người nên vợ nên chồng vì chuyện thua thắng rất đáng yêu này.

Nhiều câu hát trống quân đã có đời sống riêng thành vốn ca dao của dân ta. Như câu “Đồn rằng Đồng Tỉnh vui thay/Các quan cũng lắm các thày cũng đông/Người thì đô đốc quận công/Người thì tiến sĩ bảng rồng thám hoa”.

Đầu thế kỉ 20 ngoài các cuộc thi hát trống quân tự tổ chức ở làng, nhiều địa phương còn tổ chức thi quy mô lớn. Tiêu biểu là hội hát trống quân làng Vẽ nhân dịp lễ khánh thành cầu sắt bắc qua sông Cái, hội hát trống quân làng Mai năm Canh Thân (1920), hội hát trống quân tại trụ sở hội Khai trí tiến đức năm 1938...

Hiện nay còn ít địa phương duy trì loại hình hát trống quân. Những câu lạc bộ ca hát mới thành lập thường nghiêng về hát quan họ và dân ca các miền kết hợp nhạc mới. Tuy nhiên do ở các thôn làng người biết hát trống quân còn nhiều là điều kiện tốt để khôi phục lại loại hình nghệ thuật truyền thống mang tính phổ biến này. Đây là nhiệm vụ mang tính cấp bách của cả cộng đồng để bảo lưu một loại hình nghệ thuật dân tộc mang tính riêng biệt của người Việt.

Phạm Thuận Thành (An Bình, Thuận Thành)
Top