Bao dien tu Bac Ninh
Thứ sáu, 10/02/2017 - 08:36
Bắc Ninh qua các thời kỳ lịch sử
Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), “Tân Mão, Minh Mệnh năm thứ 12 (1831) Mùa Đông, tháng 10, ngày mồng 1. Vua dụ bày tôi rằng: Dựng các trấn làm bình phong và đặt quan chức để cai trị, là chính sách lớn của triều đình,…” . Chia định hạt các tỉnh gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoa, Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Yên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Sơn Tây.

Bia Kim bảng lưu phương tại Văn Miếu Bắc Ninh.

 

 

Bắc Ninh trong lịch sử

Bắc Ninh thời Việt cổ thuộc bộ Vũ Ninh của nhà nước Văn Lang. Dưới sự thống trị của nhà Tần (214-209 TCN) Bắc Ninh thuộc quận Tượng; dưới triều Hán (210 TCN-110 TCN) thuộc quận Giao Chỉ với hai huyện Luy Lâu và Long Uyên (hoặc Long Biên); dưới triều Ngô-thuộc chính quyền quận Giao Châu; dưới triều Tấn (248-420) thuộc quận Giao Chỉ, với các huyện Long Biên, Luy Lâu, Vũ Ninh và Khúc Dương.

Đầu đời Đường, khoảng năm 622, Bắc Ninh được gộp trong địa phận Giao Châu, Đạo Châu (năm 623 được đổi thành Nam Đạo, năm 632 đổi thành Tiêu Châu), Long Châu thuộc Giao Châu Đô hộ phủ. Sau đó được gộp trong huyện Long Biên của Vũ Bình, Bình Đạo của Giao Châu thuộc An Nam Đô hộ phủ.

Trong những năm cuối thế kỷ X, trong các triều Đinh (968-980); Tiền Lê (980-1009), Bắc Ninh vẫn giữ nguyên sự phân chia cương vực như dưới thời Đường. Bắc Ninh tiếp tục thuộc Giao Châu. Dưới triều Lý (1010-1225), Bắc Ninh bao gồm cả Phú Lương. Thời Trần (1255-1400), vùng Bắc Ninh là Bắc Giang Lộ và Như Nguyệt giang lộ. Từ 1397 trở đi và dưới triều Hồ (1400-1407) nó được tổ chức thành Bắc Giang lộ đô tổng phủ.

Kể từ năm 1407, tỉnh Bắc Ninh bao gồm phủ Bắc Giang và Châu Lạng Giang của phủ Lạng Giang. Phủ Bắc Giang quản lý trực tiếp các huyện: Siêu Loại và Gia Lâm, bao gồm 3 châu: Gia Lâm, Vũ Ninh và Bắc Giang. Châu Gia Lâm quản lý 3 huyện: An Định, Tế Giang và Thiện Tài. Châu Vũ Ninh quản lý 5 huyện: Tiên Du, Vũ Ninh, Đông Ngàn, Từ Sơn và Yên Phong. Châu Bắc Giang quản lý 3 huyện: Tân Phúc, Thiện Phệ và Yên Việt. Phủ Lạng Giang quản lý trực tiếp các huyện: Thanh Viễn, Cổ Dũng, Phượng Sơn, Na Ngạn và Lục Ngạn. Châu Lạng Giang quản lý 4 huyện: Thanh An, An Ninh, Cổ Lũng và Bảo Lộc.

 

 

Cửa thành Bắc Ninh do bác sĩ quân y Charles-Edouard Hocquard trong đoàn lính viễn chinh Pháp chụp ngày 13-3-1884.

 

Thời Lê Thái Tổ (1428-1433) đã chia nước thành 5 đạo. Vùng Bắc Ninh được gộp vào Bắc đạo (Bắc đạo khi đó gồm có Bắc Giang, Lạng Giang và Thái Nguyên). Đời Lê Thánh Tông (1460-1497)-tổ chức vương quốc thành Thừa tuyên và chia nước làm 13 đạo. Bắc Ninh trở thành đạo Bắc Giang. Đến năm Quang Thuận thứ 7 (1466) trở thành Kinh Bắc, với 4 phủ và 19 đạo.

Năm 1490, vua Lê Thánh Tông tổ chức lại đất nước thành 13 xứ. Kinh Bắc trở thành Kinh Bắc xứ. Từ năm Gia Long thứ nhất đời Nguyễn (1802) gọi là trấn Kinh Bắc. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi là trấn Bắc Ninh.

Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), “Tân Mão, Minh Mệnh năm thứ 12 (1831) Mùa Đông, tháng 10, ngày mồng 1. Vua dụ bày tôi rằng: Dựng các trấn làm bình phong và đặt quan chức để cai trị, là chính sách lớn của triều đình,…” . Chia định hạt các tỉnh gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoa, Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Yên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Sơn Tây.

Ngày 1 tháng 10 năm Tân Mão tra theo lịch Vạn Niên là ngày 4 tháng 11 năm 1831. Tỉnh Bắc Ninh thống trị 20 huyện nằm trong 4 phủ. Phủ Từ Sơn gồm: Quế Dương, Đông Ngàn, Võ Giàng, Tiên Du, Yên Phong. Phủ Bắc Hà gồm: Tiên Phúc (Sau này đổi là Đa Phúc), Kim Hoa (Sau này đổi là Kim Anh), Hiệp Hòa, Yên Việt (Sau này đổi là Việt Yên). Phủ Lạng Giang gồm: Phượng Nhỡn, Hữu Lũng, Yên Dũng, Bảo Lộc, Yên Thế, Lục Ngạn. Phủ Thuận An gồm: Gia Lâm, Lương Tài, Siêu Loại, Văn Giang, Gia Định.

Đến những năm niên hiệu Tự Đức (1848-1883) đặt thêm huyện Đông Anh, tổng cộng là 21 huyện. Nay Hữu Lũng nhập vào Lạng Sơn, Lục Ngạn sát nhập vào Lục Nam. Hiện chỉ còn 19 huyện.

Trong những năm cuối thế kỷ XX, những thay đổi lớn đã được đem đến cho ngay cả khuôn khổ tỉnh Bắc Ninh. Năm 1887 một số tổng của tỉnh Bắc Ninh đã được tách ra khỏi các huyện: Siêu Loại, Gia Lâm và huyện Lương Tài để gộp vào tỉnh Hưng Yên. Năm tổng của huyện Văn Giang được gộp vào tỉnh Hải Dương.

Tháng 10-1895, thực dân Pháp chia tỉnh Bắc Ninh thành 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Tỉnh Bắc Ninh (mới) có hai phủ Thuận Thành, Từ Sơn, bao gồm 10 huyện: Đông Ngàn, Tiên Du, Gia Lâm, Văn Giang, Siêu Loại, Gia Bình, Lương Tài, Quế Dương, Võ Giàng, Yên Phong.

Năm 1896 phủ Đa Phúc gồm 2 huyện Kim Anh, Đa Phúc chuyển về Bắc Ninh. Năm 1902 lại tách huyện Đa Phúc và Kim Anh ra khỏi Bắc Ninh. Năm 1905, tỉnh Phúc Yên được thành lập trên cơ sở 2 huyện Đông Anh, Đa Phúc.

Năm 1912 huyện Siêu Loại được đổi tên là huyện Thuận Thành, huyện Đông Ngàn được đổi tên là huyện Từ Sơn. Cũng năm này tổng Đông Xá của huyện Thuận Thành được chuyển về huyện Gia Lâm tỉnh Hưng Yên.

Ngày 19/10/1938, chính quyền thuộc Pháp ở nước ta quyết định nâng cấp thị xã Bắc Ninh lên thành thành phố loại III. Bắc Ninh được coi là thành phố thứ 5 của Bắc Kỳ đứng sau Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định.

 

 

Mộc bản triều Nguyễn.

 

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Bắc Ninh là đơn vị hành chính cấp tỉnh, trực thuộc Ủy ban hành chính Bắc Bộ, rồi Ủy ban hành chính Liên khu I, Liên khu Việt Bắc.

Ngày 28-5-1946 lập tại tỉnh Bắc Ninh một thị xã, tên là thị xã Bắc Ninh (Nghị định số 730-PHC).

Tháng 2-1947, huyện Văn Giang nhập vào tỉnh Hưng Yên. Tháng 6-1947 chuyển huyện Văn Lâm về tỉnh Bắc Ninh. Đến ngày 14-4-1948 giải tán thị xã Bắc Ninh. Ngày 28-11-1948, Chủ tịch nước ra Sắc lệnh số 263-SL đưa huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Bắc Ninh về tỉnh Hưng Yên.

Ngày 7-11-1949, Chủ tịch nước ra Sắc lệnh số 131-SL đưa huyện Gia Lâm trở về Bắc Ninh.

Tháng 1-1950, tỉnh Bắc Ninh gồm 9 huyện (138 xã): Yên Phong, Quế Dương, Thuận Thành, Tiên Du, Lang Tài, Võ Giàng, Từ Sơn, Gia Bình, Gia Lâm.

Tháng 8-1950 huyện Gia Lương ra đời trên cơ sở hợp nhất hai huyện Gia Bình và Lương Tài.

Ngày 26-4-1951, Nghị định số 2198-PTH/NĐ của Thủ hiến Bắc Việt-thành lập thị xã Bắc Ninh trên cơ sở ba trấn Bắc Ninh, Thị Cầu và Đáp Cầu.

Hòa bình lập lại, để thuận lợi cho việc chỉ đạo, quản lý, Quốc hội, Chính phủ đã quyết định điều chỉnh địa giới các huyện, xã của tỉnh Bắc Ninh như sau: Tháng 4-1961, huyện Gia Lâm nhập vào Hà Nội cùng 2 xã của huyện Thuận Thành, 2 xã của huyện Tiên Du và 8 xã của huyện Từ Sơn. Tháng 10-1962, hợp nhất hai huyện Quế Dương và Võ Giàng thành huyện Quế Võ. Tháng 3-1963, huyện Tiên Sơn ra đời trên cơ sở hợp nhất hai huyện Tiên Du và Từ Sơn sau khi đã chuyển một số xã sang Gia Lâm và Đông Anh; xã Đông Thọ, xã Văn Môn chuyển sang Yên Phong, nhận của Yên Phong hai xã Tương Giang và Phú Lâm và từ Quế Võ hai xã Khắc Niệm và Võ Cường.

Ngày 27-10-1962, Quốc hội khóa II ra Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc. Ngày 1-4-1963 tỉnh Hà Bắc chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới, trung tâm tỉnh lỵ đóng ở thị xã Bắc Giang. Tỉnh Hà Bắc có diện tích là 421.633 km2 với 14 huyện, 2 thị xã; dân số là 1.000.305 người.

Tỉnh Bắc Ninh được tái lập

Ngày 6-11-1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã ra Quyết định phê chuẩn việc tái lập hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Ngày 1-1-1997, tỉnh Bắc Ninh chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới. Thị xã Bắc Ninh trở thành thị xã tỉnh lỵ. Tỉnh Bắc Ninh có diện tích là 822,7 km2 với 5 huyện và 1 thị xã có 123 xã, phường, thị trấn; dân số 925.997 người.

Sau khi tỉnh được tái lập, ngày 9-8-1999 Chính phủ ra Nghị định số 68/1999/NĐ-CP tách huyện Gia Lương thành hai huyện Gia Bình và Lương Tài; tách huyện Tiên Sơn thành hai huyện Từ Sơn và Tiên Du, các đơn vị hoạt động theo đơn vị hành chính mới từ ngày 1-9-1999. Thời điểm này tỉnh Bắc Ninh có 7 huyện và 1 thị xã: Huyện Gia Bình gồm: 13 xã 1 thị trấn, trung tâm huyện ở thị trấn Đông Bình. Huyện Lương Tài gồm: 13 xã 1 thị trấn, trung tâm huyện ở thị trấn Thứa. Huyện Thuận Thành gồm: 17 xã 1 thị trấn, trung tâm huyện ở thị trấn Hồ. Huyện Tiên Du gồm: 15 xã 1 thị trấn, trung tâm huyện ở thị trấn Lim. Huyện Từ Sơn gồm: 10 xã 1 thị trấn, trung tâm huyện ở thị trấn Từ Sơn. Huyện Quế Võ gồm: 23 xã 1 thị trấn, trung tâm huyện ở thị trấn Phố Mới. Huyện Yên Phong gồm: 17 xã 1 thị trấn, trung tâm huyện ở thị trấn Chờ. Thị xã Bắc Ninh gồm 9 phường 1 xã.

Ngày 26-1-2006, Chính phủ ra Nghị định số 15/2006/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Bắc Ninh trực thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Ngày 9-4-2007, Thủ tướng ra Nghị định 60/2007/NĐ-CP điều chỉnh địa giới thành phố Bắc Ninh gồm 10 phường là: Đáp Cầu, Thị Cầu, Vũ Ninh, Suối Hoa, Tiền An, Vệ An, Ninh Xá, Kinh Bắc, Đại Phúc, Võ Cường và 9 xã: Kim Chân, Vân Dương, Nam Sơn, Hạp Lĩnh, Khắc Niệm, Phong Khê, Khúc Xuyên, Vạn An, Hòa Long.

Ngày 24-9-2008, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 01/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Từ Sơn, thành lập các phường thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Như vậy, thị xã Từ Sơn có 12 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các phường: Đồng Kỵ, Trang Hạ, Đồng Nguyên, Đình Bảng, Tân Hồng, Châu Khê, Đông Ngàn và các xã: Tam Sơn, Tương Giang, Hương Mạc, Phù Khê, Phù Chẩn.

Ngày 5-2-2010, Nghị quyết số 06/NQ-CP thành lập các phường: Vân Dương, Vạn An, Hạp Lĩnh từ các xã có tên tương ứng, điều chỉnh đơn vị hành chính thành phố Bắc Ninh thành 13 phường và 6 xã.

Ngày 29-12-2013, Nghị quyết số 137/NQ-CP của Chính phủ thành lập các phường: Khắc Niệm, Khúc Xuyên và Phong Khê từ các xã có tên tương ứng.

Ngày 25-6-2014, Chính phủ ban hành Quyết định số 1044/QĐ-TTg công nhận thành phố Bắc Ninh là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đến nay thành phố Bắc Ninh có diện tích tự nhiện 23,34 km2 và dân số 121.028 người; có 19 đơn vị hành chính gồm 16 phường, 3 xã.

Sau nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính, hiện nay Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm: thị xã Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong, Quế Võ, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài và thành phố Bắc Ninh; 126 xã, phường, thị trấn, với diện tích 822,271km2, dân số 1.186.160 người, mật độ dân số 1.262 người/km2.

 

(Theo tài liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)
Top