Bao dien tu Bac Ninh
Thứ sáu, 30/12/2016 - 09:28
Bắc Ninh với truyền thống hiếu học - khoa bảng
Bắc Ninh là tỉnh có truyền thống hiếu học - khoa bảng vẻ vang, nổi tiếng nhất ở nước ta. Tính theo địa danh, địa giới hành chính hiện nay, tỉnh Bắc Ninh có 393 vị đỗ đại khoa, hơn 1.000 vị cử nhân, tú tài (thời kỳ phong kiến). Truyền thống vẻ vang đó vẫn được phát huy mạnh mẽ trong xã hội đương đại.

Có 3 yếu tố và điều kiện cơ bản cấu thành truyền thống hiếu học, khoa bảng của người Bắc Ninh, đó là yếu tố huyết thống và truyền thống; điều kiện xã hội và địa lý tự nhiên; điều kiện kinh tế. Bắc Ninh-Kinh Bắc hội cả các yếu tố trên nên truyền thống hiếu học, khoa bảng có từ rất sớm và có nhiều người thành danh. Số liệu thống kê theo toàn bộ bia “Kim bảng lưu phương”, bia “phụ ký” ở Văn Miếu Bắc Ninh thì Bắc Ninh-Kinh Bắc có tới 669 vị đỗ đại khoa (thời kỳ phong kiến). Con số này đã trừ đi số vị đại khoa có tên trong bia “Kim bảng lưu phương” nhưng chỉ trú quán ở Kinh Bắc chứ không phải quê ở Bắc Ninh-Kinh Bắc: (3 vị). So sánh với các tỉnh trong cả nước, Bắc Ninh - Kinh Bắc có số lượng các vị đỗ đại khoa nhiều nhất nước thời kỳ phong kiến. Theo địa danh, địa giới hành chính hiện nay (8 huyện, thị xã, thành phố), tỉnh Bắc Ninh có tổng số 393 vị đại khoa

Trong thời phong kiến, Bắc Ninh có nhiều đặc điểm nổi bật trong khoa cử như: Có người trúng tuyển trong kỳ thi đầu tiên của cả nước là Lê Văn Thịnh; có vị Trạng nguyên đầu tiên của nền khoa cử Việt Nam là Nguyễn Quan Quang; có khoa thi người Bắc Ninh đoạt cả danh hiệu Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhỡn và Thám hoa), cụ thể là các vị sau: Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh, quê ở xã Hương Mạc (còn gọi là làng Me), Từ Sơn (xưa là Ông Mạc, huyện Đông Ngàn), nên dân gọi là Trạng Me; Bảng nhỡn Hứa Tam Tỉnh, quê xã Như Nguyệt (còn gọi là làng Ngọt), xã Tam Giang, huyện Yên Phong; nên về sau mới có giai thoại - “Trạng Me đè Trạng Ngọt”; Thám hoa Nguyễn Hữu Nghiêm, quê ở xã Đông Thọ, huyện Yên Phong. Đồng thời ông cũng là danh nhân khoa bảng đạt danh hiệu Thám hoa trẻ tuổi hàng nhất trong nước (18 tuổi).

 Bắc Ninh có nhà khoa bảng đậu “Tứ nguyên” danh hiệu độc đáo nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam là Nguyễn Đăng, quê ở xã Đại Toán, huyện Quế Dương, thi 3 kỳ (Hương, Hội, Đình) đều đỗ đầu (Giải nguyên, Hội nguyên và Đình nguyên). Khoa thi Đình năm 1602 ông đỗ Hoàng giáp là cao nhất (tức là đệ nhất giáp đệ nhị danh) không có ai đỗ hàng đệ nhất giáp (Trạng nguyên, Bảng nhỡn, Thám hoa). Sau đó triều đình lại tổ chức 1 kỳ thi “ứng chế” (thi đối đáp) ông lại đỗ đầu, nên được vua tặng danh hiệu “Tứ nguyên” độc nhất trong nước.

Bắc Ninh có danh nhân khoa bảng “Lưỡng quốc Trạng nguyên” Nguyễn Đăng Đạo, quê ở xã Hoài Bão, huyện Tiên Du, đậu Trạng nguyên năm 1683 và được phong Trạng nguyên khi đi sứ Trung Quốc năm 1697. Bắc Ninh có nhà khoa bảng đỗ Tiến sĩ trẻ tuổi là  Nguyễn Nhân Thiếp - đậu Tiến sĩ năm 1466 - khi đó mới 15 tuổi. Ngoài ra còn có Tiến sĩ Nguyễn Nhân Dư đậu năm 1472 khi đó 17 tuổi; đậu Tiến sĩ năm 18 tuổi có 6 vị, đậu năm 19 tuổi có 5 vị, đậu năm 20 tuổi có 8 vị, đậu năm 21 tuổi có 9 vị. Bên cạnh đó cũng có người đậu Tiến sĩ cao tuổi nhất nước là ông Quách Đồng Dần quê ở xã Phù Khê, Từ Sơn, đậu Tiến sĩ năm 1634 - khi đó 68 tuổi. Ở Bắc Ninh có vị đỗ Tiến sĩ nhiều tuổi thứ 2 là Vũ Miên quê ở xã Ngọc Trì, (huyện Lương Tài) đậu Tiến sĩ năm 1616 khi 64 tuổi. Sỹ tử cao tuổi nhất Việt Nam là ông Đoàn Tử Quang (đậu Cử nhân khi 82 tuổi). Đậu Trạng nguyên cao tuổi là ông Nguyễn Xuân Chính, quê ở xã Phù Chẩn, huyện Từ Sơn, đậu Trạng nguyên năm 1637 - khi đó 50 tuổi.

Bắc Ninh có 2 vị đậu Trạng nguyên trẻ tuổi là: Vũ Kiệt quê ở Cửu Yên, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành đậu Trạng nguyên năm 1472 (khi đó 20 tuổi) và Nguyễn Quang Bật quê ở xã Bình Ngô (nay là An Bình), huyện Thuận Thành, đỗ Trạng nguyên năm 1484 - khi đó 20 tuổi. Đậu Bảng nhãn trẻ tuổi nhất Kinh Bắc (21 tuổi) là Nguyễn Nhân Huân, sinh năm 1476, quê ở Kim Đôi, huyện Quế Võ (nay thuộc thành phố Bắc Ninh) người đỗ học vị cao nhất trong gia tộc có 18 vị đại khoa. Đậu Thám hoa trẻ tuổi (18 tuổi) là Nguyễn Hữu Nghiêm (đã nêu ở phần trên). Hai cha con đỗ đại khoa cùng một khoa là Nguyễn Bình (cha) và Nguyễn Tài Toàn, quê ở Bồng Lai, Quế Võ - đậu đại khoa năm 1628. Bắc Ninh có 8 cặp hai anh em ruột cùng thi đậu đại khoa trong cùng một khoa thi. Họ Nguyễn làng Kim Đôi có 18 vị Tiến sỹ, trong đó có gia đình năm anh em ruột đều đỗ đại khoa, có bốn anh em họ cùng đậu Tiến sĩ một khoa, có mười ba đời có người liên tiếp đỗ đại khoa. Bắc Ninh cũng có trường hợp thầy thi cùng một khoa với trò, nhưng trò đỗ cao hơn đó là Nguyễn Khắc Kính (quê ở xã Thanh Khương, Thuận Thành) đỗ Hoàng Giáp và Phạm Duy Quyết cùng đỗ Trạng Nguyên năm 1562.

Truyền thống hiếu học, khoa bảng của người Bắc Ninh được phát triển trong xã hội đương đại. Cùng với lịch sử, ở mỗi thời kỳ công tác giáo dục đào tạo có những đặc điểm khác nhưng luôn luôn được quan tâm, phát triển. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, bước đầu xây dựng tổ chức nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ chủ yếu thực hiện bình dân học vụ xóa nạn mù chữ. Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ,  giáo dục và đào tạo tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ cấu quản lý, hình thành các cấp học nâng cao trình độ dân trí, văn hóa của đông đảo quần chúng nhân dân. Bước đầu xây dựng hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, có sự đầu tư về cơ sở vật chất, kỹ thuật, bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên.

Từ năm 1975 đến năm 1985 tỉnh đã điều chỉnh bộ máy quản lý cũng như hình thức phân cấp giáo dục ở các cấp học. Mở rộng qui mô và các hình thức giáo dục đào tạo, thành lập mới nhiều trường đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1996, các cấp học, ngành học không ngừng được mở rộng, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, chất lượng dạy và học có chuyển biến tích cực đặc biệt là ở các trường chuyên, lớp chọn. Bước đầu đã có sự liên kết, phối hợp giữa ngành giáo dục với các cấp, các ngành khác và các tập thể, cá nhân trong công tác xã hội hóa giáo dục.

Giai đoạn từ 1997 đến nay, thực hiện chính sách “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân” trong giai đoạn này giáo dục, đào tạo và thu hút nhân tài đạt nhiều thành tựu lớn. Bộ máy quản lý được hoàn thiện và củng cố, nhiều chính sách, đề án đó được triển khai. Đặc biệt những quy định, chính sách đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân tài bước đầu đã thu được kết quả tích cực góp phần đáng kể vào công cuộc “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, đào tạo nguồn nhân lực tiến tới mục tiêu để tỉnh Bắc Ninh phát triển và bền vững.

Bên cạnh những chính sách của tỉnh, Hội khuyến học ở các địa phương và gia tộc ra đời và hoạt động có hiệu quả đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp giáo dục, đào tạo cũng như kế thừa và phát huy truyền thống hiếu học khoa bảng của quê hương.

Lê Viết Nga (Hội Sử học tỉnh Bắc Ninh)
Top