Bao dien tu Bac Ninh
Thứ năm, 29/12/2016 - 09:31
Dấu ấn giải quyết việc làm trong 20 năm
Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho gần 14 nghìn lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 60%, tỷ lệ thất nghiệp thành thị chỉ còn 3,2%... Đó là những con số biết nói cho thấy dấu ấn đậm nét trong công tác giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 20 năm qua. Cơ hội việc làm rộng mở với những chính sách khuyến khích đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đưa Bắc Ninh trở thành mảnh đất lành “đáng sống” đối với lao động trong tỉnh cũng như nhiều tỉnh, thành phố lân cận.

Doanh nghiệp và người lao động tham gia phỏng vấn tuyển dụng trực tiếp tại Sàn giao dịch việc làm tỉnh.

 
 
Vượt xa nỗi lo ly hương, thất nghiệp

Xã Đại Xuân (huyện Quế Võ) có 7 thôn với nghề nghiệp chính là nông nghiệp. Câu chuyện về những tháng ngày nhọc nhằn, đổ mồ hôi trên đồng ruộng, tranh thủ gánh gạch ven sông với thu nhập bấp bênh vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức người dân nơi đây. Khi chủ trương xóa bỏ lò gạch được thực hiện triệt để, nhiều người từng phải ly hương đi nơi khác tìm việc, kiếm sống. Chẳng ai dám nghĩ chỉ sau một thời gian, sự xuất hiện của các khu công nghiệp (KCN) làm đổi thay hoàn toàn cuộc sống làng quê. Không còn nỗi lo thất nghiệp, thanh niên trong xã giờ hầu hết đều tìm được việc làm ổn định tại các công ty. Mỗi sáng, những nẻo đường quê lại nhộn nhịp bởi hàng trăm công nhân đổ về các KCN làm việc.

Ông Nguyễn Văn Huy, Chủ tịch UBND xã Đại Xuân phấn khởi cho hay: “Hiện toàn xã có hơn 1 nghìn lao động đang làm việc tại các công ty với thu nhập bình quân từ 3-5 triệu đồng/người/tháng. Việc làm ổn định, thu nhập khá trở thành điểm tựa để cuộc sống người dân ngày càng khấm khá hơn, kinh tế, văn hóa, xã hội địa phương cũng có bước khởi sắc vượt bậc so với trước”.

Không chỉ xã Đại Xuân, nhiều làng quê khác trong tỉnh cũng hoàn toàn thay da đổi thịt khi giải quyết được vấn đề việc làm cho lao động nông thôn. Toàn tỉnh hiện có 16 KCN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó 9 KCN đi vào hoạt động với 735 dự án đang sản xuất kinh doanh, hội tụ nhiều tập đoàn công nghiệp hàng đầu thế giới như: Samsung, Canon, Microsoft Mobile, Foxconn, Semcorp… Điểm tựa về kinh tế tạo ra cơ hội việc làm mới cho hàng vạn lao động, cơ cấu lao động chuyển dịch nhanh theo hướng giảm tỷ lệ lao động khu vực nông nghiệp, tăng mạnh tỷ lệ lao động khu vực công nghiệp-dịch vụ.

Bên cạnh thu hút đầu tư, tạo việc làm trong nước, xuất khẩu lao động cũng trở thành hướng giải quyết việc làm hiệu quả. Với mục tiêu tập trung vào các thị trường ổn định, thu nhập cao, từ năm 1997 đến nay có gần 34 nghìn lao động Bắc Ninh xuất cảnh sang làm việc tại các nước: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan... (bình quân gần 1700 người mỗi năm). Nhờ đó, không ít làng quê vốn thuần nông như: Bình Định (Lương Tài) Hiên Vân, Minh Đạo (Tiên Du) Vạn Ninh (Gia Bình)…  chẳng những thoát khỏi cái khó, cái nghèo mà vươn lên với danh xưng “làng xuất khẩu lao động”, bộ mặt nông thôn ngày một khang trang, hiện đại hơn nhờ nguồn ngoại tệ mà các lao động đi làm việc tại nước ngoài gửi về.

Theo số liệu thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, từ năm 1997 đến 2015, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 278.500 lao động (Bình quân 13.925 lao động/năm), trong đó: Công nghiệp - Xây dựng là 206.925 lao động, Nông nghiệp là 14.482 lao động, Dịch vụ là 57.093 lao động. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị hạ từ mức trên 6,73% năm 1997 xuống chỉ còn 3,2% năm 2015.

Nhiều chính sách hỗ trợ người lao động

Xác định giải quyết việc làm góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, ngay từ những ngày đầu tái lập tỉnh, Bắc Ninh có những chính sách, giải pháp đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động. Từ năm 2011, các cơ chế, chính sách này được cụ thể hóa với nhiều chương trình, kế hoạch, đề án được phê duyệt, thực hiện hiệu quả như: Đề án cung ứng lao động tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011- 2015; Quy định chế độ hỗ trợ đào tạo và sử dụng lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn Bắc Ninh; Quy định mức hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho lao động tham gia xuất khẩu lao động; Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở Dạy nghề đến năm 2025; Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020…
Để người lao động tiếp cận thông tin, tìm kiếm được việc làm phù hợp, kịp thời cung ứng lao động cho các doanh nghiệp, các giải pháp đẩy mạnh kết nối cung - cầu lao động, định hướng phát triển thị trường việc làm, hỗ trợ thông tin, tư vấn, giới thiệu việc làm cho người dân… được chú trọng. Trong đó nổi bật là sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ chương trình Quốc gia hỗ trợ việc làm. Tính đến cuối năm 2015, Tổng dư nợ chương trình vay vốn Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm toàn tỉnh đạt trên 58 tỷ đồng, qua đó hàng nghìn dự án được phê duyệt vay vốn, tạo việc làm mới cho gần 40 nghìn lao động.

Sau 20 năm, từ chỗ hầu hết lao động đều làm việc trong khu vực nông nghiệp, các nghề giản đơn, năng suất thấp, nhiều rủi ro, phân bổ chưa hợp lý; đến nay tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ còn chiếm khoảng 30%, tỷ lệ lao động được giải quyết việc làm trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng - dịch vụ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ngày càng chiếm đa số. Sự mất cân đối cung - cầu lao động từng bước được tháo gỡ bằng các giải pháp khuyến khích đầu tư, nâng cao và giữ vững vị trí về chỉ số năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp có kỹ thuật, công nghệ cao và các ngành kinh tế mũi nhọn.

Số lượng cơ sở đào tạo nghề trong tỉnh có bước “đột phá”, tăng gấp gần 6 lần từ 9 cơ sở (năm 1997) lên 51 cơ sở gồm: 5 trường Cao đẳng nghề, 12 trường Trung cấp nghề, 20 Trung tâm dạy nghề và 14 cơ sở khác có dạy nghề; 100% các huyện, thành phố, thị xã đều có trung tâm dạy nghề. Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị  được đầu tư nâng cấp, quy mô đào tạo được mở rộng theo hướng hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực.        

Song hành với phát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thị trường lao động cũng luôn là nhiệm vụ, mục tiêu mà tỉnh đặc biệt quan tâm. Trên cơ sở các cơ chế, chính sách hướng dẫn của Trung ương, tỉnh bám sát, thực hiệu hiểu quả các đề án, kế hoạch phát triển nhân lực phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn; tập trung xây dựng danh mục ngành, nghề có thế mạnh trong phát triển nguồn nhân lực theo hướng trọng tâm, trọng điểm, đi vào chiều sâu.

Ông Đỗ Thanh Quang, Phó Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội nhận định: Chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh được nâng lên thể hiện ở trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của người lao động. Từ một tỉnh có tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ trên 10%, Bắc Ninh vươn lên thuộc nhóm các tỉnh có tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề cao trên mức bình quân cả nước với tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60%, lao động qua đào tạo nghề đạt 45%. Một số ngành nghề đào tạo bước đầu đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động kỹ thuật của thị trường lao động trong nước và tham gia xuất khẩu lao động như: Cơ khí, Điện tử công nghiệp; cắt gọt kim loại hàn, cơ điện tử; điện công nghiệp; kỹ thuật lắp đặt và điều khiển trong công nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; điêu khắc mỹ nghệ...”.

Hoài Phương
Top