Bao dien tu Bac Ninh
Thứ ba, 16/10/2012 - 09:28
Nhận rõ hạn chế, khuyết điểm, yếu kém để khắc phục, từng bước nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng trong thời gian tới
Trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình của Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã chỉ rõ hạn chế, khuyết điểm trong công tác kiểm tra Đảng của Đảng bộ thời gian qua: Còn có cấp ủy ngại va chạm, né tránh kiểm tra dấu hiệu vi phạm, do đó một số vụ việc xử lý cán bộ thiếu kịp thời, chưa nghiêm, có những vụ việc, những vấn đề sai phạm nhưng chưa được kiểm tra, xem xét xử lý.

Một số vụ việc kiểm tra dấu hiệu vi phạm tham nhũng, nhất là những vụ có liên quan đến người đứng đầu cơ quan đơn vị, địa phương, những vụ việc phức tạp, nghiêm trọng chậm được phát hiện. Công tác kiểm tra, giám sát cấp ủy viên cùng cấp còn hạn chế, các vụ việc phát hiện, xử lý chủ yếu là cán bộ cấp cơ sở.

Với tinh thần thẳng thắn và nghiêm túc, nhìn thẳng vào sự thật, làm rõ khuyết điểm, hạn chế trên, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng của UBKT các cấp trong Đảng bộ trong thời gian qua còn có những hạn chế, khuyết điểm sau:

 Thứ nhất: Thiếu tính chủ động tích cực, dấu hiệu vi phạm của tổ chức Đảng và đảng viên chậm được phát hiện và kiểm tra, nhất là đối với cấp ủy viên cùng cấp nên số cuộc kiểm tra dấu hiệu vi phạm còn rất ít, chưa đạt yêu cầu; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo còn có trường hợp chưa kịp thời, có hiện tượng đùn đẩy, dẫn đến khiếu kiện kéo dài, chất lượng kiểm tra Điều 30 còn hạn chế, chưa đi sâu vào kiểm tra chức trách, nhiệm vụ của đảng viên và cán bộ lãnh đạo trong lĩnh vực kinh tế, tổ chức cán bộ, chưa làm rõ được khuyết điểm, vi phạm để thi hành kỷ luật. Vai trò của công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn chưa rõ, chưa đạt yêu cầu.

Thứ hai: Công tác thi hành kỷ luật của Đảng còn hạn chế. Khi xử lý thi hành kỷ luật còn chưa làm rõ trách nhiệm người đứng đầu, tổ chức và các cá nhân có liên quan, xử lý kỷ luật Đảng, kỷ luật chính quyền chưa đồng bộ, xử lý kỷ luật Đảng chưa gắn với xử lý kinh tế, xử lý chức vụ.

Thứ ba: Công tác giám sát chuyên đề còn lúng túng, chưa chọn trúng chuyên đề cần giám sát, kết luận chủ yếu mang tính kiến nghị khuyến cáo, chưa đủ hiệu lực yêu cầu các cơ quan công quyền phải xem xét, khắc phục, chấn chỉnh những vấn đề qua giám sát chỉ ra, phát hiện vi phạm sau giám sát còn hạn chế.

Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém trên là do:

- UBKT các cấp còn yếu trong khâu nắm bắt, phát hiện, quản lý địa bàn; việc nghiên cứu, phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo (kể cả một số đơn thư nặc danh) giúp cho việc phát hiện dấu hiệu vi phạm còn chưa tốt; việc thực hiện quy chế phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật, việc phân tích, tiếp cận kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, quản lý ngành còn hạn chế; có biểu hiện né tránh, ngại va chạm trong kiểm tra dấu hiệu vi phạm, nhất là đối với cấp ủy viên cùng cấp; dẫn đến việc kiểm tra dấu hiệu vi phạm còn ít.

- Trong kiểm tra Điều 30 Điều lệ Đảng chưa tập trung kiểm tra các lĩnh vực tài chính, đất đai, đầu tư, tổ chức cán bộ nên chưa phát hiện được đảng viên là cán bộ lãnh đạo quản lý có dấu hiệu tham nhũng trong các lĩnh vực này, làm hạn chế vai trò của công tác kiểm tra Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

- Một số cấp ủy, tổ chức Đảng chưa nhận thức đầy đủ, nhận thức công tác kiểm tra Đảng chỉ trong khuôn khổ như: việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhận thức như vậy là đúng nhưng chưa đủ, dẫn đến trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra Đảng thiếu việc chỉ đạo kiểm tra vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, tư pháp và công tác tổ chức, cán bộ; chỉ đạo xây dựng chương trình toàn khóa và kế hoạch kiểm tra hàng năm còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, chưa tập trung vào đội ngũ cán bộ chủ chốt, người đứng đầu, những cán bộ công tác ở những lĩnh vực, địa bàn, công việc dễ phát sinh tham nhũng. Một số người đứng đầu cấp ủy, tổ chức cơ quan, đơn vị có biểu hiện sợ mất cán bộ, ảnh hưởng đến uy tín, thành tích nên đã không chỉ đạo công tác kiểm tra Đảng kiên quyết và kịp thời, có trường hợp có biểu hiện ngăn cản công tác kiểm tra dấu hiệu vi phạm, giải quyết đơn tố cáo đối với tổ chức Đảng, đảng viên, làm ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của công tác kiểm tra Đảng.

Trong tình hình mới, với quyết tâm chính trị của Đảng, cán bộ, đảng viên có sai phạm, có hành vi tham nhũng phải xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh cả về trách nhiệm chính trị, hành chính hoặc hình sự, bất kể người đó là ai, ở cương vị nào. Những đảng viên có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút, dù cơ quan chức năng chưa kết luận, cấp ủy vẫn xem xét bố trí công việc khác cho phù hợp…

Để công tác kiểm tra Đảng ngày càng góp phần tích cực, hiệu quả trong công tác xây dựng Đảng, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) thời gian tới cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là: Nâng cao nhận thức cho các cấp ủy trong việc xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mình, từ đó có quyết tâm chính trị cao trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng tại Đảng bộ, địa phương cơ quan, đơn vị mình.

Hai là: Cấp ủy các cấp chỉ đạo tổ chức cơ sở Đảng tăng cường công tác quản lý, giáo dục, giám sát, kiểm tra cán bộ, đảng viên, gắn chặt chẽ với việc tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm. Nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm phải tiến hành kiểm tra hoặc báo cáo tổ chức Đảng có thẩm quyền kiểm tra kết luận, xử lý nghiêm minh, không được né tránh, đùn đẩy.

Ba là: Cấp ủy các cấp tạo điều kiện về mọi mặt (điều kiện làm việc, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, chỉ đạo nội dung kiểm tra, giám sát) cho UBKT cấp mình thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng trong xây dựng Đảng và đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tạo điều kiện và giao cho UBKT cấp mình được tiếp cận, nhận, khai thác các kết luận thanh tra, điều tra, kiểm toán, quản lý ngành để nắm bắt tình hình, phối hợp, phát hiện dấu hiệu vi phạm, kiểm tra xử lý, thi hành kỷ luật Đảng đồng bộ, kịp thời.

Bốn là: UBKT các cấp bám sát các nghị quyết, chỉ thị của Đảng để chủ động xây dựng kế hoạch, bổ sung nhiệm vụ kiểm tra theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) vào chương trình công tác kiểm tra hàng năm. Cần xác định trọng tâm, trọng điểm, lĩnh vực, địa bàn, đối tượng cần kiểm tra, giám sát, thực hiện kịp thời nhiệm vụ cấp ủy giao. Khi cần thiết cần chủ động đề xuất thành lập Đoàn công tác liên ngành để kiểm tra, xử lý các vụ việc có vi phạm hoặc dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng.

Năm là: UBKT các cấp phải chấn chỉnh để thực hiện nghiêm túc việc nghiên cứu, phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định, chủ động giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền, không được đùn đẩy, né tránh hoặc để tồn đọng kéo dài.

Sáu là: UBKT các cấp tăng cường công tác kiểm tra tài chính Đảng đối với cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, tham nhũng trong nội bộ Đảng.

Bảy là: Cấp ủy các cấp kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan UBKT và đội ngũ cán bộ kiểm tra Đảng các cấp theo hướng tinh gọn, đủ mạnh để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. UBKT các cấp và mỗi cán bộ kiểm tra Đảng tự nghiêm túc rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, nâng cao bản lĩnh, năng lực, kỹ năng công tác theo hướng chuyên nghiệp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

Bùi Văn Hoan (Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy)
Top