Vương triều Lý trị vì đất nước ta 215 năm (1010-1225), đã có nhiều công lao trong lịch sử dân tộc. Nhà Lý có công khai lập nền văn minh Đại Việt và đã đặt nền móng vững chắc về mọi mặt cho muôn đời sau.

" /> Thái sư Lê Văn Thịnh và hội thập đình
Bao dien tu Bac Ninh
Thứ Tư, 16/06/2010 - 10:53
Thái sư Lê Văn Thịnh và hội thập đình
 

Vương triều Lý trị vì đất nước ta 215 năm (1010-1225), đã có nhiều công lao trong lịch sử dân tộc. Nhà Lý có công khai lập nền văn minh Đại Việt và đã đặt nền móng vững chắc về mọi mặt cho muôn đời sau.

Công lao đầu tiên thuộc về các bậc vua anh minh triều Lý. Đó còn là vai trò to lớn của các danh nhân thời Lý, trong đó có “Trạng nguyên” Thái sư Lê Văn Thịnh.

 

Căn cứ vào thư tịch, có thể khái quát về cuộc đời Thái sư Lê Văn Thịnh như sau: Lê Văn Thịnh sinh năm 1050 tại làng Bảo Tháp tên nôm là “Gủ Tháp”, thuộc xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, trong một gia đình nho học. Cha là Lê Văn Thành nhà nho vừa dạy học vừa bốc thuốc chữa bệnh cứu người nghèo. Mẹ là Trần Thị Tín quê làng Ngô Xá (nay là Vân Xá- Cách Bi- Quế Võ).

 

Ngay từ nhỏ, Lê Văn Thịnh đã nổi tiếng là người thông minh hiếu học. Nhưng vì hoàn cảnh gia đình, hai mẹ con phải lưu lạc sang làng Trạc Nhiệt (Mộ Đạo- Quế Võ) sinh sống và mẹ ông đã mất tại đây. Nhân dân Trạc Nhiệt đã chôn cất, sau lập đền tôn thờ thân mẫu của ông. Khi ông mới lớn thì cũng là lúc cha mẹ lần lượt qua đời; đoạn tang cha mẹ xong, ông đến làng Tri Nhị dạy học. Năm 1075, nhà Lý mở khoa thi “Minh kinh bác học”, Lê Văn Thịnh đỗ đầu. Sau khi thi đỗ, Lê Văn Thịnh được bổ chức Tả thị lang bộ Binh, kiêm việc dạy vua học. Năm 1084, vua Lý Nhân Tông cử ông đến trại Vĩnh Bình thuộc biên giới Việt Trung để giải quyết vấn đề cương giới giữa hai nước. Với tài ngoại giao xuất sắc của ông, buộc nhà Tống phải trả lại cho nước ta 3 huyện 6 động đã chiếm. Về việc này, tại đền thờ Lê Văn Thịnh (Thôn Bảo Tháp) còn đôi câu đối ca ngợi công lao của ông.

 

Lê Văn Thịnh là người tài cao đức trọng, lại có nhiều công lao với quốc gia, được thăng đến chức cao nhất là Thái sư. Cũng vì tài đức hơn người, nên ông luôn bị bọn nịnh thần trong triều ghen ghét đố kỵ. Năm 1096, ông bị vu oan vào tội “hóa hổ” ở hồ Dâm Đàm, nhưng nhà vua luôn quý trọng tài đức của ông mà tha tội chết, cho đi đầy ở miền Thao Giang.

 

Tuy bị đi đầy, nhưng ông vẫn sống một cuộc đời có ích cho nước cho dân. Đến khi hơi tàn sức kiệt, ông tìm về quê hương, nhưng không ngờ đến xã Đình Tổ (Thuận Thành) thì chút hơi thở cuối cùng. Nhân dân Đình Tổ trọng tài đức của ông, đã chôn cất chu đáo và tôn làm Thành hoàng làng. Khi được tin ông mất, quê hương nội ngoại của ông và nhiều làng nơi ông từng có công, đã tôn làm Thành hoàng làng như: Bảo Tháp, Yên Việt, Hương Vinh, Đông Cao, Hiệp Sơn, Tri Nhị, Địch Trung, Vân Xá, Huề Đông, Cứu Sơn. Các di tích thờ phụng ông, vẫn còn bảo lưu được tài liệu, cổ vật phản ánh khá rõ về lai lịch và công lao của ông đối với nước với dân.

 

Trong số những di tích thờ Lê Văn Thịnh, tiêu biểu là đền thờ ông tại thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình. Thôn Bảo Tháp là quê nội của Lê Văn Thịnh, còn có tên nôm là Gủ Tháp là một trong các làng “Gủ”: Gủ Tháp (Bảo Tháp), Gủ Nội (Hương Vinh), Gủ Vọt (Yên Việt), Gủ Hương (Cứu Sơn) đó là một vệt làng cổ nằm quanh núi Thiên Thai. Đền thờ Lê Văn Thịnh nằm trên đỉnh núi Thiên Thai thuộc thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu huyện Gia Bình. Ngôi đền vốn được khởi dựng từ lâu đời, nhưng dấu ấn kiến trúc để lại là thời Lê Trung Hưng. Bên cạnh ngôi đền là ngôi chùa “Thiên Tâm tự” truyền rằng đấy là nhà ở của Lê Văn Thịnh, khi ông bị vu oan vào tội hóa hổ ở hồ Dâm Đàm và bị đi đầy thì quê nhà đã “hóa gia vi tự” ngôi nhà ông ở thành chùa. Đền còn bảo lưu được những cổ vật quý giá như: thần phả, sắc phong, hoành phi, câu đối, bia đá, đồ thờ tự. Bia đá có tên “Thái sư tự bị ký” niên đại 1612, ngai thờ bài vị “Lê Thái sư đại vương”, biển gỗ “ấn tứ vinh quy”, khánh đá, chuông đồng; đặc biệt là con rồng đá được tạo tác trong tư thế quặn mình đau khổ miệng cắn vào thân tai câm tai điếc và hẳn đây là bức “thông điệp” của tiền nhân gửi lại cho hậu thế về nỗi oan nghiệt của Thái sư Lê Văn Thịnh.

 

Đền thờ Lê Văn Thịnh còn nổi tiếng trong dân gian với hội “Thập đình”. Tục truyền hội Thập đình là hội đình của 10 làng thờ Lê Văn Thịnh, nằm quanh núi Thiên Thai và ven bờ sông Đuống. Những làng thuộc về hội thập đình là: Bảo Tháp, Yên Việt, Hương Vinh, Đông Cao, Hiệp Sơn, Tri Nhị, Địch Trung, Vân Xá, Huề Đông, Cứu Sơn. Những làng trên lại được phân thành ngũ đình nội và ngũ đình ngoại. Ngũ đình nội là những đình thờ cả hai vị Thành hoàng là Doãn Công và Lê Văn Thịnh (Doãn Công tương truyền là tướng của Hai Bà Trưng), gồm các làng: Bảo Tháp, Yên Việt, Hương Vinh, Đông Cao, Hiệp Sơn. Còn ngũ đình ngoại là những làng chỉ thờ một trong hai vị Thành hoàng làng gồm: Tri Nhị, Địch Trung, Vân Xá, Huề Đông, Cứu Sơn. Hội thập đình được mở vào ngày mồng 6 đến 10 tháng 2 âm lịch vào các năm Thân, Tý, Thìn. Xưa kia, để tổ chức lễ hội Thập đình, kỳ mục chức sắc của 10 làng từ trong năm đã phải họp bàn để thống nhất công việc của lễ hội. Thôn Bảo Tháp có đền thờ Lê Văn Thịnh được tôn vinh là “Đình Cả”, có trọng trách trong việc tế lễ và cỗ bàn để đón các hàng từ. Lễ vật tế Thánh bao gồm lễ tam sinh, bánh trái, hương hoa. Chức sắc quan viên của các hàng từ từ trước ngày lễ hội phải về đền, đình Bảo Tháp để túc trực. Vào ngày chính hội mồng 6 tháng 2, cả 10 làng phải rước kiệu Thành từ đình làng mình đến tập trung tại Đình Cả để tế lễ. Những làng bên kia sông Đuống phải trèo thuyền qua sông. Khi tất cả các đám rước tập trung đông đủ tại làng Bảo Tháp, theo thứ tự kiệu của các làng được rước vào đền trong; đền ngoài quan viên của 10 làng cùng tế cộng đồng. Sau phần lễ là phần hội với nhiều tục trò dân gian vui chơi giải trí như: đốt cây bông, đu vật, tuồng, chèo, cờ người... thu hút hàng ngàn người đến với hội và hội Thập đình từng nổi tiếng trong dân gian.

 

Trạng nguyên- Thái sư Lê Văn Thịnh là hiền tài của đất nước ta, tên tuổi của ông đã được sử sách lưu danh, nhân dân nhiều nơi tôn vinh thờ phụng. Hội Thập đình thờ Lê Văn Thịnh là hội tụ những giá trị nhân văn về một nhân tài có công với dân, với nước.

 

Bài, ảnh: Đỗ Thị Thủy

Top