Lê Quý Đôn (1726-1784), được coi là một học giả tiêu biểu thời trung đại. Ông có tên chữ là Doãn Hậu, tên hiệu (như bút danh ngày nay) là Quế Đường, người làng Duyên Hà huyện Duyên Hà, trấn Sơn Nam (nay là tỉnh Thái Bình), nổi tiếng thần đồng từ bé, tương truyền, thuở nhỏ, mải chơi, không chịu học, cha ông là ông nghè Lê Phú Thứ, gọi về định đánh roi phạt. Lúc ấy nhà đang có khách, khách xin cho, nghe nói Quý Đôn thông tuệ, khách lấy đầu đề Rắn đầu biếng học, ý nói bướng bỉnh lại lười, bắt làm một bài thơ Đường luật, mỗi câu đều có một con rắn, thì chắc cha sẽ tha tội cho. Lê Quý Đôn, ứng khẩu, đọc ngay:

" /> Lê Quý Đôn và những bài thơ về Kinh Bắc
Bao dien tu Bac Ninh
Thứ ba, 09/02/2010 - 10:38
Lê Quý Đôn và những bài thơ về Kinh Bắc
 

Lê Quý Đôn (1726-1784), được coi là một học giả tiêu biểu thời trung đại. Ông có tên chữ là Doãn Hậu, tên hiệu (như bút danh ngày nay) là Quế Đường, người làng Duyên Hà huyện Duyên Hà, trấn Sơn Nam (nay là tỉnh Thái Bình), nổi tiếng thần đồng từ bé, tương truyền, thuở nhỏ, mải chơi, không chịu học, cha ông là ông nghè Lê Phú Thứ, gọi về định đánh roi phạt. Lúc ấy nhà đang có khách, khách xin cho, nghe nói Quý Đôn thông tuệ, khách lấy đầu đề Rắn đầu biếng học, ý nói bướng bỉnh lại lười, bắt làm một bài thơ Đường luật, mỗi câu đều có một con rắn, thì chắc cha sẽ tha tội cho. Lê Quý Đôn, ứng khẩu, đọc ngay:

Rắn đầu biếng học

Chẳng phải liu-điu (1) cũng giống nhà.

Rắn đầu biếng học, lẽ đâu tha…

Thẹn đèn hổ lửa, đau lòng mẹ,

Nay thét, mai gầm, rát cổ cha

Ráo mép những quen lời lếu láo,

Lằn lưng chẳng khỏi vệt năm, ba…

Từ nay Trâu, Lỗ (2) xin siêng học.

Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia…

 

Cả khách và cha rất vui, cha không phạt roi nữa… Lớn lên, 17 tuổi Lê Quý Đôn đậu giải nguyên, năm 26 tuổi, thi hội đậu hội nguyên, vào thi Đình, đậu Bảng Nhãn… Năm ấy không lấy Trạng Nguyên, nên Lê Quý Đôn coi như đỗ Tam nguyên (sau này, Nguyễn Nguyễn Khuyến cũng đậu Tam nguyên) ông trải qua nhiều chức vụ quan trọng ở triều đình, vào khoảng năm 1764, ông được bổ làm Đốc Đồng Kinh Bắc. Chắc là ông cũng phải đến nhiều nơi, những danh lam thắng cảnh, càng không thể bỏ qua.

 

Thăm núi Phả Lại thuộc huyện Quế Dương (nay là Quế Võ), ông viết:

 

Văn thuyết Phả Lại Sơn

Hảo cảnh kham thắng thưởng.

Kim nhật ngẫu đăng lâm,

Thuỷ giác thanh hứng sảng.

Sơn trĩ trục giang biên

Kỳ điêu bình như chưởng

Cách ngạn thị Phao Sơn

Ông tây hổ tương ưởng

Tam giang tấu hợp lưu

Ba đào viễn đăng dạng

Bắc vọng cảnh sư nham

Đông diểu chước đinh lĩnh

Liên thiên bài thuỷ chướng

Tuy vô kỳ dữ tú

Nhân khoáng hữu nhai hồn

 

Nghĩa là:

 

Nghe nói núi Phả Lại

Cảnh đẹp đáng lên thăm

Bữa nay chợt gặp núi,

Sao sảng khoái khác thường.

Núi mọc bên bờ sông,

Như lòng tay, ngọn phẳng,

Bờ kia là Phao sơn

Núi đôi bờ bóng lẫn

Ba dòng sông hợp lại

Xa xa sóng nước dâng

Núi cảnh sơ phía Bắc,

Thước Đinh nhòm sang Đông

Tựa màn xanh giăng mắc

Dẫu núi không đặc sắc

Cũng bát ngát, êm đềm…

(Bản dịch của Ngô Văn Phú)

Ở Quế Võ còn có núi Lãm Sơn, trên núi có chùa Long Hạm, vị thiền sư nổi tiếng thời Lý, sư Không Lộ từng trụ trì ở đây. Lê Quý Đôn từng có thơ đề lại:

 

Long Hạm Tự

Long Hạm đương sơ tác thượng phương,

Tao phong khai đạo thượng lưu phương.

Toàn vân lục tính tam thiên thụ,

Bàn lĩnh thanh hoàn thập lục hương.

Xin được dịch là:

 

Chùa Long Hạm

Long Hạm từ xưa vốn chốn tiên,

Tiếng thơm sư mở lối chân truyền

Ba ngàn cổ thụ gần mây biếc,

Mười sáu làng thôn, bóng núi viền…

Thăm lò gốm ở làng Đại Lâm, Lê Quý Đôn viết:

Lô đạt hải nhuyên ngư giá tiện

Địa lân đào dã úng viên thâm

Quan tâm thướng hạ chân như chức

Phiến đắc thằng đầu kỷ khổ tâm

Xin dịch thơ như sau:

Sóng xuôi tới biển, cá mua rẻ,

Xóm cạnh lò nung, tường tiểu sành

Đầu bến, cửa sông, người tấp nập,

Lãi lờ chút đỉnh lại lao tâm…

 

Đến núi Thiên Thai (còn có tên là núi Đông Cứu), Lê Quý Đôn, đề thơ:

 

 Nhất sơn trác lập chúng sơn tuỳ,

 Kim đới vu hồi thuỷ diếu di

Thạch sắc tuyền thanh vô khách đáo,

Trúc tình hoa ý hứa tăng tri.

Bạch vân quá tháp minh hồng thụ,

Phương thảo hoành khê ám ngọc chi.

Tằng thị tiên triều du dự địa,

Phong quang y cựu tự tiền thì.

Xin được dịch thơ:

Một núi cao vời, núi khác theo,

Đai vàng sông rộng, nước trong veo.

Đá phơi, suốt reo khách du vắng,

Tình trúc, hồn hoa sư hưởng nhiều.

Đỉnh tháp mây qua, hoa thắm đỏ

Khe sâu, cỏ mịn, lá phiêu diêu…

Nơi đây vua chúa xưa hành lạc,

Nguyên vẹn cảnh quan thuở cựu triều…

 

Thăm chùa Đại Bi, thuộc huyện Gia Bình, nơi thờ Trúc Lâm tam tổ, ông vịnh thơ:

 

Liêu đài đồi tệ thảo mông lung

Pháp tượng vô ngôn chứng sắc không

Hướng trục chiếu tàn đào diệp nguyệt,

Thiền quan suy bắc địch hoa phong.

Trúc Lâm sư đệ thần lưu ngoại,

Tức mặc giang sơn mộng tỉnh trung

 

 

(mất hai câu cuối, chưa sưu tầm được)

Xin được dịch là:

Đài sen trơ đó cỏ um tùm,

Phật đứng im lìm chứng sắc không.

Nhang lụi, trăng soi đào sáng lá

Cửa chùa gió thổi, lác phơi bông

Trúc Lâm thiền đạo lưu tinh tuý

Tức mặc non sông mộng tỉnh bừng…

Không phải ở đâu Lê Quý Đôn cũng đề thơ. Phải là những danh lam, danh thắng không chỉ nổi tiếng ở Bắc Ninh mà cả nước đều biết, ông mới có những vần thơ cảnh, tình sâu đậm như thế!

Ngô Văn Phú

 

(1) Liu điu: Rắn nước

(2) Trâu, Lổ: Quê của Mạnh Tử và Khổng Tử, những bậc được coi là thánh hiền của đạo Nho...

Top