Bao dien tu Bac Ninh
Thứ năm, 08/02/2018 - 10:32
Cẩu Thần trong văn hóa Việt
Từ lâu đời, người Việt cổ đã thuần hóa được giống chó để nuôi trong nhà với mục đích trông nhà, trông của, đi săn... và đã trở thành loài vật được con người yêu quý thân thiết nhất bởi sự tinh khôn, đặc tính trung thành tuyệt đối của loài chó. Do đó, mà trong dân gian có câu tục ngữ: “Con không chê cha mẹ khó/Chó không chê chủ nghèo”. Hình ảnh con chó không những gắn bó với sinh hoạt hàng ngày của con người, mà còn đi vào văn hóa tâm linh của người Việt từ thuở bình minh lịch sử cho đến nay.

Theo các nhà nghiên cứu, trên một số trống đồng Đông Sơn, trong các họa tiết trang trí hoa văn có hình ảnh con người dắt một con chó đang đi săn và trống đồng được đánh giá là một trong những nhạc cụ quan trọng nhất trong văn hóa tâm linh của người Việt cổ, có niên đại cách ngày nay khoảng ba nghìn năm. Cũng không biết từ bao giờ, người Việt có quan niệm về “Cẩu Thần” (Chó Thần) canh giữ những chốn tâm linh, nên người xưa đã tạo tác những Cẩu Thần bằng đá để canh giữ trước cửa đền, chùa, lăng tẩm..., thậm chí trước cửa nhà. Đó còn là chuyện tâm linh về tuổi tác của những người tuổi “ Tuất” (tức cầm tinh con chó) từng là danh nhân trong lịch sử. Một câu chuyện tâm linh cảm động về năm Tuất, tuổi Tuất liên quan đến một bậc Đế Vương - Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn) đã được sách “Đại Việt sử ký toàn thư” trong phần viết về kỷ nhà Lý có ghi chép như sau: “...Trước ở viện Cảm Tuyền chùa Ứng Thiên Tâm châu Cổ Pháp có con chó đẻ con sắc trắng có đốm lông đen thành hình hai chữ “Thiên Tử”. Kẻ thức giả nói đó là điềm năm Tuất sinh người làm Thiên tử, quả là ứng nghiệm”.

 

   

Cẩu Thần chất liệu đá, niên đại thời Lê Trung Hưng hiện được bảo lưu tại Bảo tàng Bắc Ninh.

 

Về Lý Thái Tổ là bậc vua anh minh đã được sử sách ghi chép ca ngợi, dân gian lập đền thờ và có thể tóm tắt công trạng như sau: Vua có tên húy là Lý Công Uẩn sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất (974) tại hương Cổ Pháp, châu Cổ Pháp; nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Mẹ là Phạm Thị người thôn Dương Lôi (Tân Hồng, Từ Sơn). Thần tích kể rằng bà làm vãi ở chùa Tiêu và thường lên núi Tiêu kiếm củi, một hôm thấy vết chân lạ rất lớn liền ướm chân vào và mang thai sinh ra Lý Công Uẩn. Ngay từ lúc mới sinh, Lý Công Uẩn đã là người khôi ngô tuấn tú khác thường. Thấy vậy, Thiền sư Lý Vạn Hạnh tu ở chùa Tiêu nhận đỡ đầu làm con để nuôi nấng dạy dỗ. Sau đó, Thiền sư Lý Vạn Hạnh gửi Lý Công Uẩn sang cho Thiền sư Lý Khánh Văn tu ở chùa Cổ Pháp tiếp tục nuôi nấng dạy dỗ. Lý Công Uẩn là người thông minh hiếu học, văn võ song toàn và có chí khí lớn. Ông được vua Lê Đại Hành tuyển thẳng vào triều đình làm quan vệ cấm quân, thăng đến chức “Điện tiền chỉ huy sứ”. Ông không những là người tài mà còn có đức, trung quân ái quốc. Khi vua Lê Trung Tông bị em trai là Lê Long Đĩnh sai người lẻn vào cung giết chết để cướp ngôi vua, bày tôi chạy hết, duy chỉ có Lý Công Uẩn ôm xác vua mà khóc nức nở. Lê Long Đĩnh khâm phục khen là bề tôi trung, cho làm Tứ sương quân, Phó chỉ huy sứ, rồi thăng lên chức Tả thân vệ Điện Tiền chỉ huy sứ. Lê Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh) mất, triều đình tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng Đế. Sử sách ghi lại rằng Chi hậu Đào Cam Mộc đã khuyên Lý Công Uẩn lên ngôi vua như sau: “Thân vệ là người khoan thứ, nhân từ, lòng người đều quy phục. Hiện nay trăm họ đều quẫn bách, không chịu nổi mệnh trên. Thân vệ nhân tình thế đó lấy ân đức mà vỗ về thì người ta tất đua nhau theo về như nước chảy chỗ trũng, ai có thể ngăn lại được”. Lý Công Uẩn được triều đình tôn lên ngôi vua vào đầu năm Canh Tuất (1010), đặt niên hiệu là “Thuận Thiên” (Thuận ý Trời). Là người thông minh sáng suốt, có chí khí lớn, ngay sau khi lên ngôi, tháng 10 năm 1010 Lý Thái Tổ đã cho dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La cổ bên bờ Nam sông Hồng là nơi có vị trí địa lý thuận lợi làm kinh đô cho muôn đời sau. Để dời kinh đô, Lý Thái Tổ đã soạn “ Chiếu dời đô” lấy ý kiến của bá quan văn võ triều đình, bách gia trăm họ và được mọi người ủng hộ. Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn được đánh giá là tác phẩm thiên tài về chính trị, địa lý, triết học, phong thủy, quân sự, kinh tế, văn hóa... Truyền rằng, khi thuyền rồng của nhà vua vừa cập bến thành Đại La thì thấy Rồng bay lên liền đặt tên kinh đô là “Thăng Long”. Sau khi dời kinh đô ổn định, nhà vua cho thiết lập lại triều chính, chia đất nước thành 24 lộ, cho phát triển kinh tế, giáo dục, văn hóa... Đặc biệt, nhà vua rất trọng đạo Phật - Phật giáo trở thành quốc giáo, cho xây dựng nhiều chùa tháp để giáo hóa thuần phong mỹ tục. Cũng ngay sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ trở về quê là hương Cổ Pháp chọn đất xây dựng “Thái Miếu” để thờ phụng tổ tiên. Ngày Mậu Tuất tháng 3 năm Mậu Thìn (1028) Lý Thái Tổ mất, trị vì 18 năm, thọ 55 tuổi, an táng tại Thọ Lăng, được thờ phụng tại Thái Miếu (tức đền Đô).

Hiện tại tỉnh Bắc Ninh, qua điều tra khảo sát có tới hàng trăm ngôi đền, đình, chùa, lăng tẩm, xưa kia từng có “Cẩu Thần” đứng canh ở cửa với mục đích là canh giữ chốn tâm linh, trấn yểm, trừ tà... vào bên trong, tiêu biểu như: Lăng các vị Quận công họ Đặng (Phú Hòa, Lương Tài); chùa thôn Rích Gạo (Phù Chẩn, Từ Sơn); đền Thanh Lâm (An Thịnh, Lương Tài); lăng các vị Quận công ở huyện Quế Võ, Yên Phong, Từ Sơn... Đặc biệt, tại Bảo tàng Bắc Ninh còn bảo lưu được một số “Cẩu Thần” sưu tầm được, chất liệu bằng đá, niên đại thời Lê-Nguyễn được tạo tác rất đẹp trong tư thế ngồi canh trấn giữ, cổ đeo vòng có lục lạc, trong số đó có một “Cẩu Thần” trên bụng còn nguyên dòng chữ Hán khắc chìm chữ “Cẩu tử linh thần” tạm dịch “Chó thần linh thiêng” và một “Cẩu Thần” trên lưng khắc chìm dòng chữ Hán “Cẩu thần huyền vũ” tạm dịch “Chó thần huyền bí”, đã phản ánh quan niệm tâm linh của dân gian “thiêng hóa” loài vật có đặc tính tinh khôn trung thành tuyệt đối với con người.

 Qua sử liệu và di sản văn hóa vật chất (chó đá) ở các di tích đình, đền, chùa, lăng tẩm đã cho biết con chó (Cẩu) có đặc tính tinh khôn, trung thành tuyệt đối với con người, không những có tác dụng lớn trong việc trông nhà, trông của, đi săn, tình cảm mừng rỡ khi người nhà về trong đời sống thường ngày, mà còn đi sâu trong tâm linh của người Việt với việc canh cửa chốn tâm linh (đình, đền, chùa, lăng tẩm...) để bảo vệ, trấn yểm, trừ tà, kẻ ác, kẻ gian... của loài vật đáng yêu này.

ĐÀO NGỌC THẢO THẮNG
Top