Bao dien tu Bac Ninh
Thứ ba, 06/02/2018 - 08:57
Tăng cường kỷ luật của Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả hệ thống chính trị, là một tổ chức chặt chẽ.

Đảng có những quy định chung như: Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng… và có những quy định cụ thể như: Quy định thi hành Điều lệ Đảng, Quy định những điều đảng viên không được làm… Cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng không chấp hành, chấp hành không đúng Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của các đoàn thể… là vi phạm kỷ luật Đảng. Tăng cường kỷ luật của Đảng là làm cho kỷ luật Đảng có chất lượng, hiệu quả cao hơn. Mục tiêu của tăng cường kỷ luật không phải là thi hành kỷ luật càng nhiều càng tốt, mà chủ yếu là để giáo dục, răn đe, ngăn chặn, giúp tổ chức đảng, đảng viên nhận thấy sai lầm, khuyết điểm, có biện pháp khắc phục, sửa chữa, nêu cao ý thức trách nhiệm, nghiêm túc và tự giác chấp hành kỷ luật của Đảng.

Để có căn cứ thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm một cách công minh, chính xác, kịp thời, Bộ Chính trị khóa X đã ban hành Quy định số 94-QĐ/TW, ngày 15-10-2007, khóa XI ban hành Quy định số 181-QĐ/TW,  ngày 30-3-2013. Song thực tiễn luôn sống động, biến đổi đa dạng, phức tạp theo sự phát triển của xã hội nên mọi hành vi vi phạm của đảng viên cũng luôn đa dạng và tinh vi. Trên cơ sở kết quả thực hiện Quy định số 181-QĐ/TW và để sát với thực tiễn, ngày 15-11-2017, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 102-QĐ/TW (Quy định 102) về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm.

Quy định 102 được hoàn thiện rõ, cụ thể hơn, giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Việc bổ sung, sửa đổi được thực hiện đối với những điểm đã có căn cứ, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các văn bản của Đảng và đã được tổ chức hội thảo, lấy ý kiến tham gia đóng góp của các địa phương, đơn vị.

Về phạm vi, đối tượng, nguyên tắc xử lý kỷ luật trong Quy định 102 nêu rõ: “Đảng viên vi phạm những nội dung chưa có trong quy định này thì căn cứ vào quy định của Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và vận dụng quy định này để xử lý kỷ luật cho phù hợp. Đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện vi phạm vẫn phải xem xét, kết luận; nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải thi hành kỷ luật theo đúng quy định của Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và những nội dung nêu trong quy định này. Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”.

Quy định 102 gồm 5 chương; có 37 điều, tăng thêm 1 điều mới là Điều 3 về thời hiệu xử lý kỷ luật, cụ thể như sau:

1- Thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng là thời hạn được quy định trong Quy định này mà khi hết thời hạn đó thì đảng viên có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật.

a) Thời hiệu xử lý kỷ luật đảng được quy định như sau:

- 5 năm đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách.

- 10 năm đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.

b) Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm. Nếu trong thời hạn xử lý kỷ luật được quy định tại Điểm a khoản này, đảng viên có hành vi vi phạm mới thì thời hiệu xử lý kỷ luật đối với vi phạm cũ được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới.

2- Không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật đảng đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ; vi phạm về chính trị nội bộ; về an ninh, quốc phòng, đối ngoại có xâm hại đến lợi ích quốc gia và việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.

Quy định 102 đã bổ sung các hình thức kỷ luật đảng đối với những hành vi của đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra.

Việc nghiên cứu, quán triệt Quy định 102 giúp cho đảng viên nhận thức rõ được các hành vi vi phạm và hình thức kỷ luật tương ứng để nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật Đảng và điều chỉnh các hành vi trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ, quyền hạn và trong hoạt động, sinh hoạt, không mắc phải khuyết điểm, vi phạm. Hoặc nếu đảng viên có nhỡ mắc phải vi phạm thì cũng tự giác, nghiêm túc tự nhận hình thức kỷ luật tương ứng với tính chất, mức độ, hậu quả của vi phạm để có hướng sửa chữa, khắc phục, phấn đấu vươn lên. Đối với tổ chức đảng, khi đảng viên vi phạm thì phải căn cứ vào các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là Quy định 102 để xử lý bảo đảm công minh, chính xác, kịp thời.

Thực hiện tốt Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm sẽ góp phần đạt được mục đích trong thi hành kỷ luật của Đảng là vừa mang tính giáo dục sâu sắc không chỉ đối với đảng viên bị kỷ luật mà cả đối với các đảng viên khác, vừa đỡ mất thời gian, công sức và vướng mắc cho chủ thể kiểm tra, thi hành kỷ luật Đảng; góp phần tăng cường kỷ luật của Đảng, đồng thời góp phần vào việc kiểm soát quyền lực, khắc phục, ngăn chặn và đẩy lùi dần sự tha hóa quyền lực, nhất là các vi phạm lạm quyền, lộng quyền, thao túng lợi dụng quyền lực để tham nhũng, lợi ích nhóm, bè phái cục bộ.

Việc phổ biến, thông tin rộng rãi Quy định giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân giám sát việc thực hiện, phát hiện hành vi vi phạm của đảng viên, tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

 

Vũ Bá Tốn

Tỉnh ủy viên, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy  

Top