Bao dien tu Bac Ninh
Thứ Tư, 17/01/2018 - 10:25
Chó đá trấn trạch - một tín ngưỡng Việt
Các làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ cách đây ít năm thôi còn thấy nhiều đôi chó đá “canh gác” cổng làng, cổng xóm, cổng nhà và cổng đình đền chùa. Chúng dõi đôi mắt vào xa xăm, mặt mũi hếch lên như đang đánh hơi một điều gì, như trẻ con ngóng mẹ về chợ cho quà hoặc “trầm tư mặc tưởng” bên gốc tre, gốc duối cổ thụ. Ngay những lăng mộ lâu đời cũng không vắng bóng thạch cẩu. Hồn vía của “người bạn trung thành” luôn lẩn quất bảo vệ cả cõi dương lẫn cõi âm.

Có lẽ không đâu nảy sinh huyền thoại ly kỳ về chó như xứ Kinh Bắc và Thăng Long. Dân gian truyền tụng: Ban đầu, An Dương Vương đóng đô ở Uy Nỗ nhưng đàn chó của vua cứ chạy sang Cổ Loa. Một con chó quý của vua đã lót ổ đẻ trên gò đống bên đó. “Điềm giời dẫn dắt”, vua bèn rời đô đến Cổ Loa lập nên thành ốc kỳ diệu. Cho tới bây giờ, dân Cổ Loa vẫn coi “đất chó đẻ là đất quý”.

Bóc tách lớp vỏ huyền thoại sẽ rõ: Hàng mấy ngàn năm trước, người Việt đã biết sử dụng chó vào việc phát hiện địa dư  vì tính định hướng nhạy bén và sự ưa thích nơi cao ráo của chúng. Nhờ đó mà vua đã cho chuyển dịch kinh đô từ Uy Nỗ sang Cổ Loa là cách tránh chỗ úng ngập lầy lội để định cư khu vực thoáng đãng, sạch sẽ, an lành phù hợp với môi trường sinh sống của cộng đồng.

Một lần nữa chó lại gắn với chuyện sáng nghiệp đế vương và “thiên đô” của vị vua triều Lý (thế kỷ XI). Khi Lý Công Uẩn giữ chức Tả thân vệ uý thời Tiền Lê, thì chó mẹ ở chùa Ứng Thiên Tâm sinh một chó con sắc trắng trên lưng có đốm đen đọc thành chữ “Thiên tử”. Người ta đoán rằng: nhân vật sinh năm Tuất sẽ lên ngôi. Soi vào thực tế Lý Công Uẩn ra đời năm Giáp Tuất (ngày 10 tháng 2 âm lịch, năm 974).

Huyền thoại khác kể rằng: Chó mẹ hương Cổ Pháp vượt sông sang lót ổ đẻ chó con trên đỉnh núi Nùng. Do đấy, vua Lý quê Cổ Pháp đã rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long vào năm Canh Tuất (1010), lấy Nùng Sơn làm “chính điện đài” và lập  đền Cẩu Nhi ở cái gò ven hồ Trúc Bạch.

Qua huyền thoại, có thể thấy vua Lý Thái Tổ đã tổ chức nghi lễ an trạch Thăng Long có sự tính toán chí tình thuận lý.

Vốn theo đạo Phật,  ngài  không “sát sinh” chó thật để làm lễ trấn trạch trừ tà mà dùng chó đá đặt những địa điểm được thuật phong thuỷ coi là linh thiêng, ngầm biểu hiện dấu ấn văn hóa tâm linh của triều đại trong đời sống xã hội: khẳng định chủ quyền của dân Việt trên lãnh thổ quốc gia và kinh đô Thăng Long. Chó đá chính là một dạng cột mốc (khác với Cao Biền dùng bát vạn “ngọn tháp đất nung” yểm ở núi Dạm, núi Phật Tích và Mã Viện dùng cột đồng trên biên ải).

   

 

Chó đá ở Dịch Vĩ, Đan Phượng, Hà Nội.

 

Sở dĩ người Việt dùng chó đá để trấn trạch bởi nó được chế tác từ nguồn nguyên liệu thiên nhiên bản địa  sẵn có và nó còn bền vững trước  mưa nắng thời gian như vua Lê Thánh Tông đã đề cập đến trong bài thơ “chó đá” (trích “Hồng Đức quốc âm thi tập”).

“Lần kể xuân thu biết mấy mươi

Cửa nghiêm thăm thẳm một mình ngồi 

 ... Phỏng trong sức có ngàn cân nặng 

Dấu nhẫn ai lay cũng chẳng dời.

Theo thuật phong thủy thì người ta thường trấn trạch chó đá theo từng đôi (1con đực,1 con cái) và chúng đều ở tư thế ngồi, mặt ngước lên cao hướng ra phía trước. Tùy theo khu vực Dương cơ  hay  Âm phần to lớn hoặc nhỏ hẹp mà người ta mua đôi chó đá có kích cỡ thích hợp để trấn yểm(loại trừ năng lượng xấu và nâng cao sinh khí). Ở những đền to phủ lớn hay dinh thự cao sang hoặc lăng mộ vua quan thì đều xuất hiện đôi chó đá “khủng”  có chiều cao hơn một mét, vòng thân khoảng 70cm, y hệt như chó săn thật. Cổ chúng đeo khánh hoặc lục lạc từ 1- 3 chiếc được chạm khắc rất đẹp. Ở đền Bà Chúa Kho làng Cổ Mễ (thuộc thành phố Bắc Ninh) cũng có đôi chó đá như thế mặt hướng ra phía Bắc sông Cầu (chẳng biết bây giờ chúng còn không?!).

Tại sao chó đá Cổ Mễ lại “khủng” vậy? Có nhiều giả thiết lý giải liên quan đến  tên gọi của làng? Có người bảo: Cổ Mễ là chữ Cô Mễ (tên một giống lúa chiêm hạt tím trồng ruộng nước) do dân gian nói chệch đi. Có ý kiến: xa xưa tên làng là Cẩu Mễ với sự tích chó săn canh giữ kho binh lương.

Nhiều thế kỷ đã trôi qua, lịch sử đã bị phủ tầng tầng lớp lớp huyền thoại lên nhân vật Bà Chúa Kho khiến hậu thế không tránh khỏi tranh luận.

Theo một số nhà nghiên cứu cho rằng: khởi thuỷ khu đền Cổ Mễ thờ nữ thần nông nghiệp (trồng lúa nước), nhưng đến thời Lý, di tích lại tôn vinh thêm công đức của bà chúa Nhà Lý cai quản hậu cần  Quân đội trên phòng tuyến sông Như Nguyệt. Đền Bà Chúa Kho chính là nơi tưởng niệm một phụ nữ  Đại Việt đã khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong thời Lý.

Bao đời nay trong vùng lưu truyền sự tích: Bà Chúa Kho xuất thân từ một gia đình nghèo ở làng Quả Cảm. Thấy ruộng đất nơi đây màu mỡ nhưng bị bỏ hoang nên xin vua cho chiêu dân lập ấp. Lúc đó tháng 8, tháng 9 nước ngập trắng đồng, tay đeo bị trấu, bà đi dọc từ Quả Cảm xuống vùng núi Bài, vãi trấu xuống mặt nước. Gió đông bắc đưa trấu tới đâu bà cắm địa giới trại ấp đến đấy. Nhà vua đã đặt ở Cổ Mễ và Thượng Đồng những kho lương lớn (núi Kho, Cầu Gạo) giao cho bà trông nom. Ngoài việc coi sóc kho tàng, bà còn phải điều hành số tù binh, do nhà Lý bắt được sau mỗi cuộc chiến tranh, đưa họ về làm ở 72 trang ấp…,

Qua đây, có thể thấy sự tích Thác Đao điền đã được dân gian hoá một kiểu thức hấp dẫn khác vào sự tích Bà Chúa Kho.

Sử sách ghi rằng: Danh tướng Lê Phụng Hiểu đứng trên ngọn núi Xứ Thanh phóng ngọn đao tới chỗ nào rơi xuống thì  vua  Lý cho hưởng đất đai đúng giới hạn đó. Đến làng Cổ Mễ thì sự tích Thác Đao điền được thi vị hoá thành hình tượng phụ nữ vãi trấu.

Cả hai sự tích hé mở cho người đời biết về chế độ ban thưởng (phong Hầu kiến ấp) của triều Lý đối với các bậc công thần khanh tướng.

Phàm đã là kho binh lương hay kho vũ khí thuộc trang ấp của giới quý tộc quản lý thì họ phải nuôi hàng đàn chó để yểm trợ khi tình thế cấp thiết xảy ra. Trong cuộc chống Tống do danh tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy, triều đình Nhà Lý đã phải huy động một số lớn lương thực, thuốc men, vũ khí, thuyền bè ra chiến tuyến Như Nguyệt mà làng Cổ Mễ lại là một trọng điểm chiến lược quân sự thì phải có một đội chó săn cũng là lẽ đương nhiên. Chúng được huấn luyện thuần thục làm nhiệm vụ báo động, canh giữ kho tàng, khi cần thì sẵn sàng lao vào cắn xé quân giặc.

Trên vùng đất Kinh Bắc-Thăng Long việc dùng chó đá trấn trạch còn khơi gợi niềm tự hào chiến thắng giặc ngoại xâm và tạo tâm thế an bình cho cộng đồng cư dân sinh sống. Quả là một tín ngưỡng dân gian chứa đựng sự thâm thúy, minh triết của người Việt .

 Giờ đây thú chơi chó đá và dùng nó để an trạch đang phục hồi, tạo cơ hội cho làng nghề đá mỹ nghệ Ninh Vân (Hoa Lư - Ninh Bình) đáp ứng nhu cầu thị hiếu thẩm mỹ phong phú của mọi người.  

Trương Thị Kim Dung
Top