Bao dien tu Bac Ninh
Thứ Tư, 27/12/2017 - 10:09
Một số tiến sĩ Hán học ở Bắc Ninh được thờ làm Phúc thần
Tại ngôi đình của các làng cổ ở tỉnh Bắc Ninh, ngoài tín ngưỡng thờ Thành hoàng, dân làng còn thờ Phúc thần. Phúc thần là người có công tích gì đó với làng, như giúp giải quyết vụ kiện với làng khác, cứu giúp dân làng trong dịp đói kém, thiên tai, giặc dã, hoặc đó là những tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức mà được dân làng rất ngưỡng mộ, tôn kính. Trong số những vị Phúc thần, có một số vị là Tiến sĩ (TS) Hán học. Bài viết này cung cấp đến bạn đọc sơ lược tiểu sử của các vị được thờ làm Phúc thần có học vị cao đó ở tỉnh ta.

1. Lê Văn Thịnh: Người thôn Bảo Tháp xã Đông Cứu huyện Gia Bình, đỗ đầu khoa Minh kinh bác sĩ và Nho học Tam trường năm Ất Mão niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075), làm quan đến chức Thái sư. Ông được 10 làng thuộc huyện Gia Bình thờ làm Phúc thần.

2. Nguyễn Quán Quang: người xã Tam Sơn, TX Từ Sơn, đỗ đệ nhất giáp TS cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Bính Ngọ niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 15 đời vua Trần Thái Tông (1246), làm quan đến chức Bộc Xạ, được ban quốc tính họ Trần, khi mất, được dân làng Tam Sơn thờ làm Phúc thần.

3. Ngô Sở Ngọc: người thôn Văn Xá, xã Phú Hòa, huyện Lương Tài, đỗ đệ nhị giáp TS xuất thân khoa Mậu Ngọ, niên hiệu Hồng Đức thứ 9 đời vua Lê Thánh Tông (1478). Ông xuất thân từ chân Giám sinh, làm quan đến chức Hiến sát sứ. Sau khi chết, được dân làng thờ làm Phúc thần.

4. Lê Tuấn Mậu: Người xã Xuân Lôi huyện Yên Phong, đỗ đệ nhị giáp TS xuất thân, đệ nhất danh (Hoàng giáp) khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 21 đời Lê Thánh Tông (1490), làm quan đến chức Thượng thư bộ Hộ, kiêm Đô Ngự sử. Sau khi chết, ông được làng thờ làm Phúc thần.

5. Đàm Thận Huy: Sinh năm Quí Mùi (1463), người xã Hương Mặc TX Từ Sơn, năm 28 tuổi đỗ đệ tam giáp đồng TS xuất thân (đứng thứ 17) khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21 đời vua Lê Thánh Tông (1490), làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, tước Lâm Xuyên bá, sau khi mất được dân làng thờ làm Phúc thần.

6. Nguyễn Tinh: người thôn Văn Xá, xã Phú Hòa, huyện Lương Tài, đỗ đệ tam giáp đồng TS xuất thân (đứng thứ 2) khoa Quí Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 đời vua Lê Thánh Tông (1493), làm quan đến chức Lại Đô khoa Cấp Sự trung. Ông từng được cử đi sứ phương Bắc. Sau khi chết, được dân làng thờ làm Phúc thần.

7. Nguyễn Hữu Nghiêm: Sinh năm Tân Hợi (1491), người thôn Phúc Khê, xã Phù Khê TX Từ Sơn. 18 tuổi đỗ đệ nhất giáp TS cập đệ đẹ tam danh (Thám hoa) khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 đời vua Lê Uy Mục (1508), làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, mất ngày 27 tháng 12 năm Ất Dậu (1525). Sau khi chết,  được dân làng thờ làm Phúc thần.

8. Nguyễn Bạt Tụy: sinh năm Ất Tỵ (1485), người thôn Đạo Sử xã Phá Lãng huyện Lương Tài. Năm 24 tuổi, đỗ đệ tam giáp đồng TS xuất thân khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 đời vua Lê Uy Mục (1508), được cử đi sứ phương Bắc, làm quan đến chức Thượng thư. Sau khi chết, được dân làng thờ làm Thành hoàng.

9. Đào Trung Hòa: Sinh năm Nhâm Ngọ (1462), người thôn Lai Xá, xã Phú Lương, huyện Lương Tài, xuất thân Giám sinh. Năm 50 tuổi, ông đỗ đệ tam giáp đồng TS xuất thân khoa Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 đời vua Lê Tương Dực (1511), làm quan đến chức Tổng binh. Khi mất, được dân làng thờ làm Phúc thần.

10. Nguyễn Hữu Quan: Người thôn Văn Xá xã Phú Hòa, huyện Lương Tài, đỗ đệ tam giáp đồng TS xuất thân (đứng thứ 15) khoa Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 đời vua Lê Tương Dực (1511). Ông xuất thân từ chân Giám sinh, làm quan đến chức Tự khanh. Sau khi chết, được dân làng thờ làm phúc thần.

11. Đoàn Sư Đức: Người thôn Văn Xá, xã Phú Hòa, huyện Lương Tài, đỗ đệ tam giáp đồng TS xuất thân (đứng thứ 15) khoa Giáp Tuất, niên hiệu Hồng Thuận thứ 6 đời vua Lê Tương Dực (1514). Ông xuất thân từ chân Nho sinh, Ông từng được cử đi sứ phương Bắc; làm quan đến chức Thượng thư bộ Hình dưới triều Mạc, tước Văn Hà hầu. Sau khi chết, được dân làng thờ làm phúc thần.

12. Nguyễn Tự Cường: Người thôn Tam Sơn, xã Tam Sơn, TX Từ Sơn, đỗ đệ tam giáp đồng TS xuất thân khoa Giáp Tuất, niên hiệu Hồng Thuận thứ 6, đời vua Lê Tương Dực (1514), làm quan đến chức Hiến Sát sứ. Sau khi chết, được dân làng thờ làm Phúc thần.

13. Nguyễn Đình Chương: Người thôn Trung Trinh, xã Trung Chính, huyện Lương Tài, trước khi đi thi đã từng làm Tri huyện. Ông đỗ đệ nhị giáp TS xuất thân, đệ nhất danh (Hoàng giáp) khoa Quí Mùi niên hiệu Thống Nguyên năm thứ 2 đời vua Lê Cung Hoàng (1523). Không ra làm quan với nhà Mạc, khi chết, được dân làng thờ làm Phúc thần.

14. Nguyễn Thưởng (còn đọc là Xưởng): Người thôn Ngô Cương xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, đỗ đệ tam giáp đồng TS xuất thân khoa Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 đời vua Lê Cung Hoàng (1526), làm quan đến chức Tả Thị lang bộ Lễ. Sau khi chết, được dân làng thờ làm Phúc thần.

15. Nguyễn Tranh: Người thôn Văn Xá, xã Phú Hòa huyện Lương Tài, sinh năm Kỷ Dậu (1549), đỗ đệ tam giáp đồng TS xuất thân năm 32 tuổi (đứng thứ nhất) khoa Canh Thìn, niên hiệu Diên Thành thứ 3 đời vua Lê Thế Tông (1580). Ông xuất thân từ chân Sinh đồ; làm quan đến chức Hiến sát sứ. Sau khi chết, được dân làng thờ làm phúc thần.

16. Nguyễn Đăng: Sinh năm Đinh Sửu (1577), người thôn Đại Toán xã Chi Lưng, huyện Quế Võ, xuất thân Giám sinh, đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương, 26 tuổi thi Hội, đỗ Hội nguyên, vào thi Đình đỗ đệ nhị giáp TS xuất thân đệ nhất danh (Hoàng giáp) khoa Nhâm Dần niên hiệu Hoằng Định thứ 3 đời vua Lê Kính Tông (1602), đi sứ phương Bắc, làm quan đến chức Tả Thị lang bộ Hộ, tước Phúc Nham hầu. Sau khi chết, được dân làng thờ làng Phúc thần.

Việc thờ một số vị TS Hán học làm Phúc thần, một mặt thể hiện sự tôn kính những vị công thần của triều đình có công với dân với nước, mặt khác, cũng phản ánh sự trân trọng truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng xã đối với những bậc hiền tài mà họ chính là con em của làng.

Nguyễn Quang Khải
Top