Sau thời kì thành Cổ Loa là kinh đô nước ta thời An Dương Vương thì địa điểm Dâu (nay thuộc xã Thanh Khương - Thuận Thành) trở thành thủ phủ nước ta dưới thời Bắc thuộc kéo dài hàng nghìn năm với các tên gọi khác nhau: Luy Lâu, Liên Lâu, Dinh Lâu, Long Uyên, Long Biên.

" /> Thủ phủ Luy Lâu
Bao dien tu Bac Ninh
Thứ sáu, 07/11/2008 - 07:50
Thủ phủ Luy Lâu
 

Sau thời kì thành Cổ Loa là kinh đô nước ta thời An Dương Vương thì địa điểm Dâu (nay thuộc xã Thanh Khương - Thuận Thành) trở thành thủ phủ nước ta dưới thời Bắc thuộc kéo dài hàng nghìn năm với các tên gọi khác nhau: Luy Lâu, Liên Lâu, Dinh Lâu, Long Uyên, Long Biên.

Năm 207 trước Công nguyên, Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc, đổi thành quận Giao Chỉ, đã đặt Đô uý trị ở Dâu và xây thành Luy Lâu. Năm 111 trước Công nguyên nhà Hán đánh bại nước Nam Việt thì Dâu vừa là quận trị quận Giao Chỉ vừa là châu trị châu Giao. Mùa xuân năm 40 Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đã kéo quân về đánh thành Luy Lâu, thái thú Tô Định phải chạy trốn về nước. Đại Nam quốc sử diễn ca có câu:

 

 Ngàn tây nổi áng phong trần

 Ấm ầm binh mã xuống gần Long Biên.

 

Ngày nay ở vùng Dâu có nhiều làng thờ các tướng của Hai Bà Trưng như: Thanh Tương thờ Biểu Phật Nương; Văn Quan thờ ả Tắc - ả Dị; Đức Hiệp thờ Hựu Công - Đống Công; Thanh Bình thờ Tạ Thông - Đề Nương; Ngọc Trì thờ Đặng Đường Hoàng; Bảo Tháp thờ Doãn Công - Đào Nương... Riêng làng Lũng Khê ở trong nội thành Luy Lâu thì lấy ngày mồng năm tháng giêng, ngày Hai Bà chiếm thành, là ngày hội lễ của làng.

 

Đến giai đoạn thái thú Sĩ Nhiếp cai trị (187-226), lợi dụng nhà Hán suy yếu, ông đã xây dựng Luy Lâu sầm uất như một kinh đô của nước độc lập. Thời kì này cả nước Hán loạn lạc liên miên nhưng vùng đất của Sĩ Nhiếp cai trị vẫn thái bình thịnh trị. Đại Việt sử kí toàn thư xếp thời này là một triều đại riêng của nước ta, gọi là kỉ Sĩ Vương. Sĩ Nhiếp gốc người nước Lỗ, tổ tiên đã sang ta được 7 đời nên Sĩ Nhiếp đã được Việt hoá. Năm 227 con trai Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy lên thay cha đã tổ chức quân đội chống lại quân Ngô do Lục Dận chỉ huy nhưng thất bại và được dân vùng Dâu thờ làm thành hoàng.

 

Thành Luy Lâu thời Sĩ Nhiếp có quy mô to lớn, chu vi 1.848 mét, nay còn dấu tích luỹ thành như sau: Luỹ tây dài 318 mét; Luỹ đông dài 320 mét; Luỹ bắc dài 680 mét;  Luỹ nam dài 520 mét.

 

Các luỹ thành tuy đã bị san lấp, xói mòn, nhưng vẫn cao hơn mặt ruộng 4-5 mét, mặt luỹ rộng 5-10 mét, chân luỹ rộng 25-40 mét. Thành mở cửa chính ở luỹ tây nhìn ra sông Dâu, hai bên có dựng lầu gác, gọi là Vọng giang lâu. Cửa sau mở ở luỹ đông, nay thuộc xóm Cổng Hậu của thôn Thanh Tương. Trên mặt bốn góc thành là bốn đồn canh, nay còn di tích tứ trấn thành quan. Bao ngoài các luỹ thành là hào sâu, rộng 40-50 mét, hợp với sông Dâu ở phía tây, thuyền bè đi lại được. Phía ngoài hào là những luỹ tre dày đặc.

 

Năm 825 viên quan đô hộ nhà Đường là Lý Nguyên Gia chuyến trị sở đến thành Đại La ở bên sông Tô Lịch, nhưng do thành nhỏ lại chuyển về Luy Lâu. Khoảng năm 875 Cao Biền mở rộng thành Đại La thì vai trò đứng đầu của Luy Lâu mới chấm dứt.

 

 Sở dĩ các sử gia phong kiến Việt Nam đánh giá cao Sĩ Nhiếp như là một triều đại riêng chính là do ông đã có công phát triển văn hoá cho người Việt. Đại Việt sử kí toàn thư  nhận xét: Nước ta được thông thi thư, tập lễ nhạc, là một nước văn hiến do bắt đầu từ Sĩ Vương. Sách Luy Lâu lịch sử và văn hoá thì khẳng định: Sĩ Nhiếp là người đem văn hoá Trung Quốc truyền vào Luy Lâu một cách mạnh mẽ, đàng hoàng và hệ thống; nhưng cũng chính là người có công tu tạo, tôn vinh, quy chuẩn phong tục bản địa.

 

Trước hết là việc truyền bá chữ Hán đến mọi tầng lớp nhân dân. Bản thân Sĩ Nhiếp cũng mở trường và trực tiếp dạy chữ. Đền thờ Sĩ Nhiếp ở trong thành Luy Lâu thời phong kiến gọi là Văn Miếu tiên nho. Đền được xây dựng quy mô to lớn dưới thời Mạc do Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn chỉ đạo. Phía trước đền có hai gò đất gọi là gò Nghiên gò Bút. Các học giả phong kiến tôn Sĩ Nhiếp là Nam Giao học tổ. Các triều đại đều có sắc chỉ cho dân địa phương thờ phụng Sĩ Nhiếp, hiện còn ghi lại trên các bia đá ở đền, như bia Luy Lâu thành trùng hưng thánh miếu bi do Nghĩa quận công Nguyễn Tính người làng Hoa Cầu soạn năm 1661; bia Cung san lệnh dụ phụng sự bi dựng năm 1676. Theo lệnh dụ của Tây vương Trịnh Tạc thì mỗi năm tổ chức tế lễ bốn lần. Cuộc tế mùa xuân do phủ huyện lo, còn ba cuộc tế hạ, thu, đông do địa phương lo. Dân thủ lệ mỗi năm được miễn 17 quan tiền thuế để lo tế tự.

 

Đặc biệt Sĩ Nhiếp đã biến Dâu thành trung tâm phật giáo lớn và cổ xưa nhất nước ta. Các tăng sĩ ấn Độ trực tiếp đến truyền giáo. Hệ thống chùa tháp được xây dựng dày đặc trong vùng. Chính Sĩ Nhiếp đã khéo kết hợp tín ngưỡng bản địa với phật giáo để điển lệ hoá thành lễ hội Tứ Pháp duy trì đến tận ngày nay và nó còn lan toả sang nhiều vùng quê khác ở đồng bằng Bắc bộ. Hội Tứ Pháp lấy chùa Dâu làm trung tâm.

 

 Chùa Dâu sớm nổi tiếng và từng được vua nhà Tuỳ ban tặng viên xá lị quý làm vật báu trấn chùa. Mặc dù đựng trong nhiều lớp hòm làm bằng các vật liệu khác nhau nhưng xá lị vẫn phát sáng ra ngoài. Thời Lý vua còn đòi xem xá lị, sau phải chôn kĩ vì sợ mất.

 

Đến năm 1313 trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi xây dựng lại chùa Dâu với quy mô rất lớn chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Chùa tiếp tục được trùng tu vào các thời Lê, Nguyễn, đến nay còn khá nguyên vẹn với cấu trúc hình chữ Quốc. Phần ngoài là nhà tiền thất, giải vũ và hạ điện. Phần trong là tháp Hoà Phong, nhà tiền đường, tam bảo và thưượng điện. Trước chùa có hai hồ hình chữ nhật đối xứng nhau tạo cảnh quan. Phía bắc chùa là các công trình nhà tổ, nhà tăng,nhà bếp, giếng, ao, và các tháp mộ tổ.

 

Ngoài các giá trị kiến trúc cổ thời Trần, chùa Dâu còn có nhiều tác phẩm nghệ thuật quý, những bức tranh chạm khắc gỗ và các tượng phật nổi tiếng: Pháp Vân, Pháp Vũ, Tam Thanh, Tam Thế, La Hán, Tiên Đồng, Ngọc Nữ, sư tổ Tìniđàlưuchi, Mạc Đĩnh Chi... Pho tượng Ngọc Nữ có kích thước như người thật, mang dáng dấp đời thường là pho tượng đẹp đặc biệt thu hút sự chú ý của du khách.

 

Mới đây nhà nước ta đã đầu tư hàng chục tỉ đồng trùng tu lại toàn bộ chùa Dâu, hiện nay đã cơ bản hoàn thành. Chùa vẫn giữ được nét kiến trúc cổ, nhưng bảo đảm độ bền vững hơn trong nhiều năm nữa.

 

Chùa Dâu và lễ hội Tứ Pháp luôn lung linh trong tâm trí mỗi người dân Việt:

 Dù ai buôn đâu bán đâu

 Nhớ ngày mồng tám hội Dâu mà về.

Phạm Thuận Thành

Top